SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ mầm non

Biện pháp 2: Xây dựng và thực hiện nghiêm túc nội qui trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ:

- Mỗi cán bộ giáo viên nhân viên và học sinh trong nhà trường phải thực hiện nghiêm túc các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, thường xuyên tổ chức, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức vệ sinh an toàn thực phẩm trong cộng đồng.

- Kết hợp với trung tâm y tế huyện thường xuyên kiểm tra khám sức khoẻ định kỳ cho cô nuôi xem có đủ tiêu chuẩn về sức khoẻ, không mắc các bệnh truyền nhiễm đáp ứng được công việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

- Xây dựng kế hoạnh phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm trong nhà trường.

- Bảo đảm đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường. Đặc biệt chú ý các nội dung sau:

 Về điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo về vị trí: Thiết kế bố trí cấu trúc đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm

 Về điều kiện thiết bị, dụng cụ: Tất cả các thiết bị dụng cụ nấu nướng, chế biến, sử dụng, bảo quản, chứa đựng phải đảm bảo tiêu chuẩn quy định.

 Về điều kiện con người: Đảm bảo mỗi nhân viên nuôi dưỡng hàng năm được khám sức khỏe định kỳ, học tập kiến thức và thực hành tốt chế độ vệ sinh cá nhân.

 Hàng tuần hàng tháng họp lấy ý kiến đóng góp của giáo viên và mọi người xung quanh để đúc kết kinh nghiệm cho những lần chế biến sau.

Kiểm soát chặt chẽ nguồn cung cấp thực phẩm: Nguồn gốc, thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm, khâu chế biến nấu nướng, khâu bảo quản vận chuyển. Phối hợp với chính quyền địa phương kiểm soát các cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, cấm các loại hàng rong bán quà xung quanh trường học khi không đủ điều kiện vệ sinh theo quy định.

 Đào tạo bồi dưỡng kiến thức, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm cho cán bộ - giáo viên - nhân viên và học sinh. Đưa nội dung giáo dục vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm vào các hoạt động hàng ngày cho trẻ tại nhà trường. Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non.

 

doc 37 trang daohong 07/10/2022 12421
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ mầm non

SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ mầm non
sóc, nuôi dưỡng trẻ để truyền đạt đến các bậc phụ huynh học sinh cụ thể:
*. Đối với phụ huynh:
Tuyên truyền phổ biến kiến thức cho các bậc phụ huynh đóng vai trò quan trọng trong việc huy động trẻ ăn bán trú và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non cũng như trong cộng đồng, tôi đã thực hiện nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: Họp phụ huynh, bảng thực đơn, trên thông tin đại chúng mỗi tháng 2 lần vào tối chủ nhật tuần 2 và tuân 4 hàng tháng về tầm quan trọng và sự cần thiêt của việc tổ chức cho trẻ ăn ngủ tại trường mầm non. Để các bậc phụ huynh nắm bắt được kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và sức khoẻ của trẻ như phổ biến kiến thức nuôi con theo khoa học, nuôi con khoẻ dạy con ngoan, cách lựa chọn thực phẩm và kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ.
Ví dụ: Bữa ăn hợp lý thì phải ăn đúng giờ, ăn đủ các chất, hợp vệ sinh, cân đối 5o% đạm động vật, 50% đạm thực vật, đảm bảo 4 nhóm thực phẩm như chất đạm, chất béo, chất bột đường, vitamin và muối khoáng, định lượng calo cần cho cơ thể trẻ trong ngày trẻ từ 1 -36 tháng tuổi năng lượng cả ngày là 1.180 kcal/trẻ/ngày nhu cầu năng lượng tại trường mầm non là 708-826 kcal/trẻ/ngày, trẻ từ 36-72 tháng tuổi năng lượng cả ngay là 1.470 kcal/trẻ/ngày, nhu cầu năng lượng tại trường mầm non là 735-882 kcal/trẻ/ngày.
- Tuyên truyền vận động các bậc phụ huynh về chế độ ăn của trẻ, tình hình đặc điểm của nhà trường, tầm quan trọng của việc cho trẻ ăn đủ chất - đủ lượng. Khẩu phần ăn của trẻ hàng ngày phải đảm bảo nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết ở tỷ lệ cân đối, hợp lý: Đạm - Mỡ - Đường - VTM và chất khoáng.
- Mời phụ huynh đến trường xem tổ nuôi dưỡng chế biến các món ăn, tổ chức bữa ăn cho trẻ, phân tích cho phụ huynh biết thức ăn chế biến phải đảm bảo an toàn thực phẩm, phù hợp với hệ tiêu hoá của trẻ, phù hợp với lứa tuổi, thức ăn của trẻ phải thái nhỏ, nấu nhừ. Thành lập ban phụ huynh chăm sóc sức khoẻ ở trường gồm mỗi lớp hai thành viên, ban này có thể dự giờ thăm lớp, dự cách chế biến các món ăn theo kế hoạch tuần, tháng, đột xuất và từ đó góp ý xây dựng cho giáo viên, cho trường để nhà trường kịp thời sửa sai và điều chỉnh về chế độ dinh dưỡng cho trẻ. Mở hội thi cô nuôi giỏi, nhà trường mời phụ huynh tham dự để giúp cho sự nâng cao về nhận thức nuôi dưỡng, tổ chức hội thi dinh dưỡng của bé, bé tập làm nội trợ, thành phần gồm có giáo viên, phụ huynh, trẻ.
( Kiểm tra quá trình chế biến ăn trưa cho trẻ)
- Trẻ ăn theo thực đơn hàng ngày đảm bảo 2 bữa chính, 01 bữa phụ. Mỗi bữa chính phải có 02 món ăn mặn và một món canh, thực phẩm luôn thay đổi theo ngày không lặp lại 2 lần / 1 tuần. 
- Lấy kết quả theo dõi sức khỏe trẻ đầu năm để tuyên truyền vận động.
Do mức đóng góp còn thấp, kinh phí có hạn nên bữa ăn của trẻ tuy đã đủ về chất song chưa đủ về lượng, nhu cầu năng lượng của trẻ một ngày ở trường mới đáp ứng được từ 67,7 -> 72,9 %.Nên tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở trường vẫn còn 11 %. Đề nghị các bậc phụ huynh nâng mức ăn của trẻ từ 11.000đ/ trẻ / ngày lên 12.000đ / trẻ/ ngày.
- Tổ chức họp phụ huynh ở cả 03 điểm trường để tuyên truyền vận động tăng mức tiền ăn cho trẻ. 
- Thông qua hội cha mẹ học sinh tham gia giám sát kiểm tra bếp ăn, chế độ ăn, chất lượng bữa ăn của trẻ tại các điểm trường.
- Phụ huynh, giáo viên đăng ký bán thực phẩm sạch cho nhà trường theo giá thị trường của từng thời điểm. 
*. Đối với giáo viên, nhân viên : 
 - Hướng dẫn giáo viên thông tin bảng tuyên truyền tại lớp, thông qua giờ đón trẻ, trả trẻ trao đổi với phụ huynh về tinh hình sức khoẻ, chế độ ăn uống, chăm sóc để thống nhất phương pháp chăm sóc giáo dục, đề phòng một số bệnh theo mùa, bệnh thông thường, trao đổi kinh nghiệm chăm sóc sức khoẻ trẻ và hinh thành nề nếp thói quen cho trẻ trong ăn, ngủ, nề nếp sinh hoạt, chế độ luyện tập.
- Hàng ngày các cô giáo gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với phụ huynh trong lớp để nắm tình hình sức khỏe của trẻ ở nhà trường qua giờ đón và trả trẻ .Qua đó cô giáo tuyên truyền với phụ huynh cách chăm sóc trẻ ở nhà trường để gia đình và nhà trường có sự phối kết hợp chăm sóc trẻ đạt hiệu quả.
- Xây dựng các góc “ trao đổi phụ huynh” ở mỗi lớp. Dán các hình ảnh tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch, tháp dinh dưỡng , tuyên truyền các món ăn chứa đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, cách phòng một số tai nạn cho trẻ, biểu đồ tăng trưởng của mỗi nhóm/lớp để phụ huynh học sinh tham khảo nâng cao nhận thức theo dõi sức khỏe của con mình. 
- Thông qua các hội thi như: “ Trang trí phòng nhóm”, “ Thi tuyên truyền về dinh dưỡng”, “ Bé tập làm nội trợ”... tại trường để tuyên truyền kiến thức cho các bậc cha mẹ để hiểu được tầm quan trọng của việc đưa trẻ ra trường mầm non để học.
- Phát thanh trong nhà trường: là hình thức tuyên truyền rất hiệu quả cung cấp các thông tin cần thiết tới phụ huynh do thông tin được phát trong giờ đón và trả trẻ. Phối hợp cùng hội phụ nữ, ban văn hoá xã tổ chức tuyên truyền kiến thức nuôi dạy con theo khoa học đến các bậc phụ huynh trên thông tin đại chúng, qua các buổi sinh hoạt, hội họp địa phương tổ chức, kết hợp cùng nhà trường để tổ chức các hội thi cho trẻ như bé khoẻ bé ngoan, nuôi con khoẻ, gia đình dinh dưỡng trẻ thơ.
- Đối với lứa tuổi mầm non, vấn đề phát hiện sớm sự phát triển không bình thường của trẻ rất quan trọng. Giáo viên của Trường Mầm non Trung Mầu thường xuyên cung cấp hoặc giới thiệu cho các bậc cha mẹ trẻ biết các mốc phát triển bình thường của trẻ và những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để có thể phát hiện và can thiệp sớm. 
Biện pháp 4: Tăng cường công tác quản lý chăm sóc sức khỏe trẻ:
 - Theo dõi khám sức khỏe cho trẻ là một vấn đề rất quan trọng ở trong trường mầm non cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc và theo lịch, nếu thực hiện tốt sẽ giúp chúng ta phát hiện một cách kịp thời những trường hợp cháu bị mắc bệnh. Vì vậy nhà trường đã xây dựng kế hoạch, phối kết hợp với trạm y tế phường để tổ chức khám sức khỏe cho cháu một năm 2 lần.
 Lần 1: Vào ngày ..., lần 2 vào ngày ....
(Buổi khám sức khoẻ đầu năm tại trường)
- 100% các cháu trong nhà trường đều được cân đo và có sổ theo dõi sức khỏe trên biểu đồ tăng trưởng.
(Giáo viên cân đo trẻ)
 + Đối với nhà trẻ: Một tháng cân đo một lần đánh giá theo dõi trên biểu đồ.
 + Đối với mẫu giáo: Hai tháng cân đo một lần đánh giá theo dõi trên biểu đồ.
 Kết quả cân đo, khám sức khỏe của trẻ đều được thông qua phụ huynh tại góc tuyên truyền của các lớp.
- Phòng bệnh: Để tổ chức tốt phòng bệnh cho trẻ nhà trường đã vận động nhắc nhở các bậc phụ huynh đi tiêm chủng đầy đủ cho trẻ. Tuyên truyền đến phụ huynh cách phòng bệnh theo mùa và cách chữa bệnh thông thường cho trẻ
- Tại các nhóm, lớp phải bố trí môi trường cho trẻ hoạt động thoáng mát, đảm bảo vệ sinh, đủ ánh sáng .
Biện pháp 5: Xây dựng thực đơn dinh dưỡng phù hợp với thực tế nhà trường- Nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ:
 Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ là một công trình lớn lao đòi hỏi các cô giáo, cô nuôi phải có thời gian, vốn hiểu biết về dinh dưỡng và tâm sinh lý trẻ. Để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ thì cần phải có những bữa ăn ngon miệng đầy đủ dinh dưỡng. 
Một bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng phải đủ 3 nguyên tắc sau: 
 * Nguyên tắc 1: Thức ăn phải có đủ 4 nhóm chất: Bột đường, chất đạm, chất béo, chất xơ.
 Chất bột đường có trong thức ăn chế biến từ gạo như: Bột, cháo, cơm, mỳ.... chất này cung cấp năng lượng cho trẻ và giúp chuyển hoá chất trong cơ thể.
 Chất đạm có trong thịt, cá, tôm, cua các loại đậu ... giúp xây dựng cơ bắp, tạo kháng thể.
 Chất béo có trong mỡ, dầu, bơ ... dự trữ, cung cấp cho bé năng lượng và các vitamin.
 Chất xơ có trong các loại rau củ, trái cây, giúp cơ thể bé chuyển hoá chất và tăng cường chất đề kháng cung cấp vitamin, khoáng chất.
 * Nguyên tắc 2: Nước nhu cầu nước của trẻ chiếm từ 10 – 15% trọng lượng cơ thể. Một trẻ em nặng 10kg thì trung bình cần 1-1,5lít nước/1 ngày. Mùa nóng trẻ cần lượng nước nhiều hơn mùa lạnh. Nếu cha mẹ cho trẻ ăn thức ăn quá đặm hoặc không cho trẻ uống đủ nước thì sự tiêu hoá và hấp thụ của trẻ sẽ kém. 
 Nguyễn tắc 3: Thực phẩm an toàn 
 Đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong quá trình lựa chọn và chế biến thức ăn cho trẻ. Thịt, cá, rau, trái cây phải tươi sống đảm bảo không có thuốc sâu hay hoá chất, các thực phẩm đã chế biến sẵn nên lựa chọn những thương hiệu có uy tín về chất lượng và an toàn thực phẩm, thức ăn đã nấu chín nếu chưa dùng phải đậy kín.
 Đối với thực phẩm thịt, cá, rau, trái cây không nên cắt nhỏ ngâm trong nước vì sẽ làm mất đi một số vitamin, đối với các loại củ nên rửa nhẹ nhàng sau khi đã gọt sạch vỏ để giảm thiểu việc mất vitamin do các vitamin làm ngay dưới lớp vỏ .
 Để có một khẩu phần ăn cân đối cho trẻ, tôi đã phối hợp nhiều loại thực phẩm với nhau trong ngày ở tỷ lệ thích hợp và đảm bảo đủ năng lượng theo lứa tuổi. Nhằm đảm bảo đầy đủ nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng. Nhóm lương thực, nhóm giàu chất đạm, nhóm thức ăn giàu chất béo, nhóm thức ăn giàu vitamin và khoáng chất, do đó hàng ngày tôi chọn cho trẻ ăn những món ăn đa dạng và thay đổi từng ngày, từng bữa để hấp dẫn trẻ. 
 Chính vì để đảm bảo đủ 4 nhóm thức ăn cho bữa ăn hàng ngày của trẻ tôi cùng tổ nuôi dưỡng đã phối hợp, xây dựng bảng thực đơn cho trẻ tại trường Mầm non số 1 thị trấn. 
Ví dụ: Thực đơn đầy đủ chất dinh dưỡng và được thay đổi theo ngày, theo mùa cho trẻ như sau:
BẢNG THỰC ĐƠN DINH DƯỠNG MÙA ĐÔNG
Thời gian
Thứ hai
Thứ ba
Thứ tư
Thứ năm
Thứ sáu
 SÁNG 
(Bữa chính)
- Trứng rán 
- Cháo trứng
- Canh củ quả
- Thịt gà rim
- Cháo gà
- Canh rau
- Thịt bò rim
- Cháo thập cẩm
- Canh đậu thịt
- Thịt gà rim
- Cháo gà 
- Canh củ quả
- Thị lợn rim
- Cháo thập cẩm
- Canh rau
CHIỀU 
( bữa phụ)
- Thịt lợn rim
- Cháo thịt
- Canh rau
- Bánh mỳ + sữa(MG)
- Thịt gà rim
- Cháo gà
-Canh củ quả
- Phở gà (MG)
- Trứng rán
- Cháo trứng
- Canh rau 
- Chè thập cẩm +bánh mỳ (MG)
- Thịt gà rim 
- Cháo gà 
- Canh quả - cháo gà
- Phở gà (MG)
- Thịt bò rim
- Cháo thập cẩm
- Canh rau – cháo
Xôi ruốc( vừng) + quả (MG)
 BẢNG THỰC ĐƠN DINH DƯỠNG MÙA HÈ
Thời gian
Thứ hai
Thứ ba
Thứ tư
Thứ năm
Thứ sáu
 SÁNG (Bữa chính)
- Cá rim 
- Cháo thập cẩm
- Canh củ quả
- Thịt gà rim
- Cháo gà
- Canh rau
- Thịt bò rim
- Cháo thịt bò
- Canh rau
- Thịt gà rim
- Cháo gà 
- Canh củ quả
- Thị lợn rim
- Cháo thịt
- canh rau
CHIỀU ( bữa phụ)
- Trứng rán
- Cháo trứng
- Canh đậu
- Chè thập cẩm + quả (MG)
- Thịt gà rim
- Cháo gà
- Canh rau
- Phở gà (MG)
- Thịt lợn rim
- Cháo thập cập
- Canh quả 
- Bánh mỳ + sữa (MG)
- Thịt gà rim 
- Cháo gà 
- Canh củ 
- Phở gà (MG)
- Trứng rán
- Cháo thập cẩm
- Canh rau
- Sữa đậu nành + bánh mỳ (MG)
 Ngoài việc cân đối khẩu phần ăn cho trẻ tôi còn lập kế hoạch tuyên truyền hàng tháng và cả năm học về các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng, vệ sinh phòng bệnh vì thực phẩm vô cùng cần thiết đối với trẻ mầm non, nếu sử dụng thực phẩm không tốt, không đảm bảo vệ sinh rất dễ xảy ra ngộ độc.
 Tuyên truyền tới toàn thể các nhóm lớp, kết hợp với hội cha mẹ học sinh cho trẻ chơi “Bé tập làm nội trợ”, hoặc thông qua các trò chơi để làm cho bé luôn cảm thấy ngon miệng và phấn khích trẻ trước mỗi bữa ăn.
 Thường xuyên có mặt tại bếp ăn kiểm tra thực phẩm vì thực phẩm là khâu quan trọng có tính quyết định đến chất lượng và sự ngon miệng trong bữa ăn của trẻ. Người nhận thực phẩm tại trường phải có trách nhiệm có kiến thức để có thể nhận biết được các thực phẩm tươi, sạch hoặc không đảm bảo vệ sinh an toàn.
(Kiểm tra quá trình chế biến thực phẩm)
 Muốn trẻ phát triển tốt về thể lực, thì trước hết phải quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng cho trẻ đảm bảo đủ định lượng dinh dưỡng, hàng ngày trẻ phải được ăn đầy đủ 3 nhóm thực phẩm sau:
 + Thức ăn cung cấp chất đạm.
 + Thức ăn cung cấp vitaminvà muối khoáng.
 + Thức ăn cung cấp năng lượng.
 Thức ăn cung cấp cho cơ thể năng lượng dưới dạng gluxit, lipit, axit amin, vitamin và chất khoáng. Các chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể là rất cần thiết, giúp cho cơ thể phát triển. Các chất dinh dưỡng bổ sung vào cơ thể thừa hay thiếu đều ảnh hưởng không có lợi cho sức khỏe. Trong thực tế thực đơn xây dựng chưa hợp lý, tỷ lệ các chất chưa cân đối ( Đạm động vật và thực vật chưa cân đối), chưa phối hợp các loại thực phẩm với nhau để chế biến món ăn cho trẻ.
 Vì vậy tôi đã chỉ đạo nhà trường căn cứ vào tiêu chuẩn thành phần dinh dưỡng quy định trong tài liệu “ Bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ: 1998- 2000 cho giáo viên mầm non” và “ Bảng tính thành phần dinh dưỡng thực phẩm Việt Nam” để nghiên cứu lại để xây dựng bảng thực đơn cho hợp lý nhằm đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho các cháu ở các độ tuổi, thay đổi được các món ăn, chế biến hợp với khẩu vị trẻ, đồng thời sử dụng nguồn thực phẩm tại chổ, dể kiếm,giá hạ, tươi ngon, thay đổi được theo mùa giúp người nấu chủ động chuẩn bị trước 
 Ví dụ: * Thực đơn tuần 1 và 2:
Thứ
Bữa trưa
Bữa chiều
2
- Thịt sốt đậu phụ
- Canh rau cải nấu cá.
Cháo gà
3
Thịt rim cà chua, canh rau thịt
Miến xương thịt
4
Ruốc cá thu, canh xương củ quả
Cháo lươn
5
Muối lạc, vừng, thịt, canh cà chua trứng
Cháo Tôm
6
Thịt bò xào cà chua, canh tôm rau vặt
Phở bò
7
Trứng rán thịt, canh thịt rau vặt
Miến xương thịt
* Thực đơn tuần 3 và 4:
Thứ
Bữa trưa
Bữa chiều
2
Thịt bò xào giá, canh trứng cà chua
Cháoxương thịt, rau
3
Thịt hấp trứng, canh rau vặt cua,hến
Sữa đậu nành, xôi
4
Cá sốt cà chua, canh xương củ quả
Phở Bò (gà)
5
Thịt xào sốt cà chua, canh rau thịt
Cháo lươn
6
Thịt rim tôm, canh rau tôm
Miến cua
7
Thịt sốt cà chua, canh rau xương thịt
Chè đậu các loại
 Nhìn vào bảng thực đơn trên được thay đổi thường xuyên theo tuần, mùa Phù hợp với mức đóng góp của các bậc phụ huynh. Từ bữa ăn sáng, trưa, đến bữa ăn phụ, bữa chiều đều được thay đổi thường xuyên để trẻ ăn không chán , ăn ngon miệng
Tìm nguồn cung cấp thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, hai bên ký kết hợp đồng mua bán chặt chẽ.
- Tổ chức giờ ăn phải đúng theo giờ quy định, giáo viên bao quát lớp , không dọa nạt, quát mắng trẻ ,luôn theo dõi khuyến khích, động viên trẻ ăn ngon miệng, hết suất ăn của mình,đặc biệt chú ý quan tâm đến những trẻ suy dinh dưỡng, ăn chậm, hay ngậm thức ăn 
Biện pháp 6: Xây dựng môi trường đảm bảo an toàn trong sạch.
* Xây dựng môi trường:
 Trẻ từ 0 – 6 tuổi là lứa tuổi đang hình thành và phát triển rất mạnh mẽ, cơ thể còn non ớt nên vấn đề môi trường có tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, do vậy vệ sinh môi trường là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng trong nhà trường. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ các thế hệ tương lai, bảo vệ sự sống của nhân loại. Bởi “ Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”.Với tầm quan trọng của môi trường như vậy nên tôi đã chỉ đạo nhà trường thực hiện tốt vệ sinh trong nhà trường như sau:
- Vệ sinh phòng nhóm lớp sạch sẽ không có mùi,nền nhà luôn khô ráo. Hàng ngày,tuần có kế hoạch cụ thể để tổng vệ sinh phòng/ nhóm/lớp như :lau các cửa sổ, giá đồ chơi, giặt chiếu, gối, phơi chăn , màn.
- Sắp xếp ngăn nắp, gọn gàng tránh bụi bẩn, muỗi ẩn nấp, giày dép để đúng nơi quy định.
- Đồ dùng: Chậu, khăn mặt, xoong nồi, ca cốctrước khi sử dụng đều được tráng qua nước sôi, hàng ngày phơi khô ráo.
- Thực hiện vệ sinh cá nhân cháu được sạch sẽ như: rửa tay, lau mặt trước khi ăn, sau khi vệ sinh, không để móng tay dài, tắm rửa sạch sẽ chổ kín gió, giữ ấm mùa đông và mát về mùa hè.
( Trẻ rửa tay, lau mặt trước khi ăn)
- Phun thuốc phòng diệt muỗi và các ngày thứ bảy, chủ nhật.
- Nguồn nước sạch sẽ ( nước máy), 100% trẻ phải được uống nước chín.
- Giáo dục trẻ không nhổ bậy,vứt rác bừa bãi, đi tiểu tiện đúng nơi quy định.
- Tổ chức cho trẻ hoạt động các góc phù hợp đủ ánh sáng ( góc ồn ào như góc âm nhạc không nên bố trí gần góc học tập) để tạo môi trường tốt cho trẻ hoạt động và thông qua các hoạt động giáo dục môi trường cho trẻ.
* Vệ sinh an toàn thực phẩm:
 Hiện nay vấn đề vệ sinh an  thực phẩm đang là mối quan tâm lớn nhất của toàn xã hội, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến cả quá trình từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng, trên công tác này đòi hỏi có tính liên ngành cao và là công việc của toàn dân. Đối với Ngành giáo dục nói chung, trong đó bậc học Mầm non đóng vai trò rất lớn đến việc tổ chức khâu an toàn vệ sinh thực phẩm cho trẻ ăn bán trú tại trường Mầm non. Vì vậy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng đối với sức khoẻ trẻ thơ nó góp phần nâng cao sức học tập, lao động của trẻ trong xã hội ngày càng phát triển hiện nay.
 Vào đầu tháng 9 hàng năm nhà trường tổ chức họp Ban lãnh đạo nhà trường và các đoàn thể thống nhất chế độ ăn uống, thực đơn ăn uống và mời các khách hàng về ký hợp đồng thực phẩm như: Thịt, rau, sữa, gạo Nguồn cung cấp thực phẩm phải có đủ điều kiện cung cấp thường xuyên và có trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo giá cả hợp lý, ổn định.
 Thực phẩm hợp đồng với nhà trường phải tươi sống như: Rau, thịt được nhận vào mỗi buổi sáng và được kiểm tra đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng hàng ngày thì BGH và nhân viên mới ký nhận và chế biến. Nếu thực phẩm không đảm bảo chất lượng như ẩm mốc, hôi thiu, kém chất lượngSẽ cắt hợp đồng.
Đối với thực phẩm nấu chín thường xuyên lưu mẫu thức ăn trong tủ lạnh 24 tiếng đồng hồ, trong quá trình sử dụng thực phẩm nếu chất lượng thực phẩm không đảm bảo thì có biện pháp xử lý kịp thời không để tình trạng dùng thực phẩm kém chất lượng trước khi chế biến cho trẻ.
* Nhà trường thành lập ban chỉ đạo y tế học đường gồm:
Đ/C Hiệu trưởng là trưởng ban
1 Đ/C  Hiệu phó phụ trách phần nuôi dưỡng cho trẻ là phó ban
Đ/C CTCĐ, Đ/C nhân viên y tế, 3 Đ/C TTCM
Đại diện cha mẹ học sinh Ban chỉ đạo có trách nhiệm đẩy mạnh công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống các dịch bệnh trong nhà trường. Theo sự chỉ đạo của nhà trường ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng ngày, định kỳ cụ thể và đột xuất được phân công cụ thể đến các thành viên trong ban chỉ đạo. 
* Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trước hết cần phải chú ý đến:
- Cách lựa chọn thực phẩm phải tươi, đảm bảo an toàn thực phẩm tức thức ăn không bị nhiễm các hóa chất độc hại. Để làm được điều đó nhà trường đã ký hợp đồng mua bán thực phẩm tươi sạch với từng nơi cung cấp.
- Cách pha chế thực phẩm phải đảm bảo từ khâu chuẩn bị chế biến, ngâm rau sau đó mới rửa khi rửa rau phải rửa xong mới được thái. Chế biến theo quy trình một chiều từ sống đến chín, không được cho thức ăn sống lẫn với thức ăn đã được nấu chín.
- Khi chia thức ăn phải được bỏ vào xoong có vung đậy để đảm bảo vệ sinh tránh bụi và ruồi, muỗi.
( Kiểm tra quá trình chia ăn cho trẻ)
- Thức ăn hàng ngày phải được lưu mẫu vào tủ lạnh đúng quy trình24/24 giờ.
 Thực hiện biện pháp này tốt thì trẻ có khả năng chống đở bệnh tật cao, trẻ phát triển lành mạnh, hài hòa, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện về thể chất.
* Nơi chế biến thực phẩm luôn thường xuyên giữ vệ sinh sạch sẽ có dụng cụ riêng cho thực phẩm sống và chín.
- Vệ sinh khi chế biến thực phẩm: Thực phẩm được sơ chế trên bàn, sau khi sơ chế thì chế biến ngày, đun nấu kỹ đảm bảo chất lượng. Dụng cụ chế biến và phục vụ ăn uống cho trẻ đầy đủ, dùng cho chế biến sống và chín riêng, đảm bảo vệ sinh.
- Bếp nấu ăn đảm bảo đủ ánh sáng và không khí.
- Bếp thực hiện quy trình một chiều để đảm bảo vệ sinh.
- Tổ chức bồi dưỡng kiến  thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường tham gia ngay vào đầu năm học.
- Nhà bếp luôn luôn hợp vệ sinh, đảm bảo bếp không bị bụi, có đủ dụng cụ cho nhà bếp và đồ dùng ăn uống cho trẻ, có đủ nguồn nước sạch cho trẻ phục vụ ăn uống. Ngoài ra trong nhà bếp có bảng tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho mọi người cùng đọc và thực hiện. Phân công cụ thể ở các khâu: chế biến theo thực đơn, theo số lượng đã quy định của nhà trường, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và hợp vệ sinh.
* Vệ sinh nhân viên nhà bếp:
+ 100% nhân viên nhà bếp được trang bị đầy đủ quần áo, khẩu trang, tạp dề
+ 100% được khám sức khỏe theo định kỳ,

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_chi_dao_nham_nang_cao_chat_luong_cham.doc