Báo cáo biện pháp Hướng dẫn học qua đồ dùng trực quan trong giảng dạy Sinh học 7

Sinh học là một trong những bộ môn khoa học nghiên cứu, tìm hiểu thế giới sinh vật trên trái đất. Nguồn kiến thức khoa học được xác lập trên cơ sở phương pháp dạy học của giáo viên. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải căn cứ vào mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ của nhà trường xã hội chủ nghĩa, nội dung chương trình sinh học giúp các em tiếp thu nguồn tri thức sinh học từ đó vận dụng vào thực tiễn đời sống.

Từ xưa cha ông ta đã nói “Trăm nghe không bằng một thấy”, đó là kết luận rút ra từ thực tế nhận thức sự vật. Nhận thức luận Mac-xít cũng nêu rõ tầm quan trọng của việc dạy học có dùng trực quan. Nhận thức của con người diễn ra theo con đường biện chứng. Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Một số nhà giáo dục nỗi tiếng như Cô-men-sky (Tiệp Khắc) cuối thế kỷ 16-đầu thế kỷ 17 đã đề cao việc dạy học có dùng đồ dùng trực quan, ông cho đó là một “nguyên tắc vàng ngọc”. Bác Hồ đã từng dạy: “Các thầy cô phải tìm cách dạy dạy thế nào để học trò hiểu chóng, nhớ lâu, tiến bộ nhanh. Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học ”.

Nhưng thực tế trong nhà trường hiện nay môn Sinh học chưa được học sinh thực sự quan tâm và hứng thú khi học. Một số giờ dạy hiện nay giáo viên vẫn dạy bằng tranh ảnh sẵn có, ít sử dụng các đồ dùng trực quan, dạy trên màn hình.Dạy như thế nào, bằng phương pháp nào cho hợp lí với các bài giảng giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ vì môn Sinh học là môn khoa học thực nghiệm. Hơn nữa ở lứa tuổi 14- 15 tuổi, các em rất hiếu động, ham hiểu biết, thích quan sát các sự vật hiện tượng cụ thể.

 

doc 19 trang Chí Tường 21/08/2023 420
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo biện pháp Hướng dẫn học qua đồ dùng trực quan trong giảng dạy Sinh học 7", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo biện pháp Hướng dẫn học qua đồ dùng trực quan trong giảng dạy Sinh học 7

Báo cáo biện pháp Hướng dẫn học qua đồ dùng trực quan trong giảng dạy Sinh học 7
ương pháp dạy học tích cực. Một trong những yếu tố góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học là việc sử dụng các đồ dùng dạy học trực quan làm cho giờ học thêm sinh động, học sinh hứng thú hơn trong học tập, từ đó học sinh dễ tiếp thu bài và dễ ghi nhớ hơn các kiến thức mà giáo viên truyền đạt.
Chúng ta đều biết mỗi phương pháp dạy học đều có một lợi thế nhất định.Việc dạy học có sử dụng đồ dùng trực quan cho phép học sinh có nhiều cơ hội tốt hơn để tìm hiểu và khám phá những khả năng tiềm ẩn của mình. Học sinh phát huy được vai trò tự tìm hiểu kiến thức theo cách của bản thân dựa trên hướng dẫn của giáo viên vừa có cơ hội để trao đổi những hiểu biết của mình với các bạn khác. Như vậy, tổ chức cho học sinh tìm hiểu kiến thức thông qua đồ dùng dạy học trực quan chính là tạo điều kiện cho tất cả học sinh tham gia vào bài học một cách chủ động và tạo được một môi trường học tập thuận lợi để trẻ hình thành kiến thức đồng thời phát triển kĩ năng sống của mình.
Trong phương pháp tổ chức, người học- đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học”- được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn theo những khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.
Lớp học là cộng đồng của chủ thể, là thực tiễn xã hội ngày nay và ngày mai của người học trong nhà trường. Lớp học được tổ chức nhằm mục đích giáo dục, làm môi trường xã hội trung giancho sự tác động tích cực của thầy và trò. Lớp học là nơi giao tiếp thường xuyên, mặt đối mặt, giữa trò và trò, trò và thầy được bố trí linh hoạt để biểu tượng cho chủ thẻ trung tâm học sinh và mối quan hệ thầy- trò mới. Lớp học chính là nơi để học sinh có thể trình bày, trao đổi, tranh luận với các bạn cùng lớp, từ đó làm cho kiến thức chủ quan của người học mới bớt phần phiến diện, tăng thêm tính khách quan, khoa học. Học bạn chính là bước đầu cần thiết cho học sinh. Tuy nhiên, các chủ thể có khi cũng gặp phải những tình huống không xử lý được, những cuộc tranh luận không kết luận được thì lại phải cần đến vai trò của giáo viên. Theo quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người sẽ định hướng, đạo diễn cho học sinh tích cực, chủ động khám phá ra các kiến thức. Ở đây, quan hệ thầy – trò tồn tại trên cơ sở sự tin cậy, tôn trọng, hợp tác lẫn nhau. Khi cá nhân và cả tập thể lớp đứng trước những tranh luận chưa ngã ngũ, người thầy sẽ là một người “trọng tài khoa học”, là người kết luận có tính chất khẳng định về mặt khoa học, giúp học sinh xử lý đúng đắn các tình huống phức tạp nổi lên trong quá trình hoạt động học tập. Sau khi trao đổi, hợp tác với các bạn và dựa vào kết luận của thầy, học sinh tự đánh giá lại sản phẩm của mình, tự chỉnh sửa những lỗi lầm mắc phải trong sản phẩm đó, tự rút kinh nghiệm về cách học, cách giải quyết vấn đề, tự hoàn thiện sản phẩm của mình.
Việc lựa chọn đề tài này dựa trên cơ sở khoa học của việc dạy- học môn Sinh học ở trường trung học cơ sở, đặc biệt trong giảng dạy môn sinh học lớp 7. 
2.2. Thực trạng vấn đề:
Trong giảng dạy bất kì môn học nào đều liên quan đến đồ dùng trực quan. Đối với môn Sinh học càng cần thiết có đồ dùng dạy học. Trong thời kì hiện đại ngày nay, các trường đều có phòng đồ dùng với đầy đủ các trang thiết bị dạy học từ đơn giản như tranh ảnh minh họa đến các thiết bị cao cấp hơn như mô hình, mẫu ngâm, đĩa hình
Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật. Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất kiến thức, là phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội. 
Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức sinh học. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan. Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm sinh học, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh
Như vậy với việc giảng dạy Sinh học có sử dụng đồ dùng dạy học trực quan là yêu cầu tất yếu với các giáo viên. Tối thiểu mỗi đơn vị bài học sử dụng từ một đến hai đồ dùng dạy học trực quan. Kênh hình trong sách giáo khoa được khai thác triệt để và một số hình ảnh được phóng to để tăng thêm phần hấp dẫn khi giới thiệu và đã gây được nhiều hứng thú cho học sinh. Khi dạy các tiết ôn tập, bài tập trong chương trình học giáo viên cần chuẩn bị một số bảng phụ, phiếu học tậpgiúp học sinh củng cố lại các kiến thức đã học và gợi mở các kiến thức sắp được học
Việc áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học đang được nhà trường rất chú trọng. Tuy nhiên mức độ sử dụng chưa sâu, chưa phong phú. Phần lớn chỉ mới dừng lại ở việc sử dụng Power point (chủ yếu thay cho bảng phụ) để trình chiếu. Việc sử dụng các phần mềm học tập (giáo án điện tử) chưa được áp dụng. 
Trường có phòng học bộ môn nhưng đang trong quá trình nâng cấp nên khả năng sử dụng giáo cụ trực quan từ phòng bộ môn chưa có hiệu quả, các dụng cụ thí nghiệm hoá chất đều khó sử dụng do việc chuẩn bị còn chồng chéo giữa các lớp cùng học 1 tiết, các mô hình, tranh vẽ, mẫu vật ngâm tiêu bản, kính hiển vi, kính lúp. còn chưa có hiệu quả khi sử dụng, nhiều mô hình đã hư hỏng. 
Các giáo viên đứng lớp với trình độ cao đẳng và đại học đều có lòng nhiệt tình và tay nghề vững vàng. Với cơ sở vật chất còn nhiều bất cập thì giáo viên dạy bộ môn Sinh thường sử dụng phương pháp dạy trên máy tính và projector với phương pháp thuyết trình là cơ bản.
Học sinh trong trường phân hóa không đồng đều theo khu vực dân cư, nhiều gia đình ít quan tâm đến việc học tập của các em. Hơn nữa bộ môn Sinh là một bộ môn khoa học thực nghiệm nên nhiều học sinh cho rằng “ Môn Sinh học không quan trọng, không phải bộ môn chính” và ít đầu tư cho môn học này. 
Với suy nghĩ như vậy, đa số các em không hiểu rõ bản chất của lí thuyết dẫn đến việc nắm kiến thức gặp nhiều khó khăn vướng mắc, do vậy kiến thức của các em bị hổng nhiều dẫn đến không hào hứng trong việc học môn Sinh học.
Qua khảo sát chất lượng học tập môn Sinh học khi chưa thực hiện đề tài, kết quả học tập của các em không cao, thể hiện trong đánh giá kết quả khảo sát đầu năm học như sau:
 Loại
Lớp
Giỏi
Khá
T. B
Yếu
Kém
7ª4 và 7ª5
8%
20%
64%
5%
3%
Đặc biệt với số học sinh kém đa số giờ học các em thường tỏ thái độ không muốn học, ghi chép bài thất thường, hay ngủ trong giờ hoặc nói chuyện tự do, chọc phá các bạn trong lớp...
2.3.Các biện pháp đã tiến hành
Trong giảng dạy sinh học đảm bảo nguyên tắc trực quan là một nguyên tắc chỉ đạo quá trình dạy học nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục. Đồ dùng trực quan cung cấp cho học sinh tối đa các hình ảnh cụ thể, biểu tượng cụ thể muôn hình, muôn vẻ của các sự vật, hiện tượng mà các em đang học và nghiên cứu. Sử dụng sự quan sát và thí nghiệm phải được xem là phương pháp đặc thù, chúng góp phần đáp ứng về mặt nhận thức ở lứa tuổi học sinh (14 tuổi đến 15 tuổi)- lứa tuổi vốn sống chưa nhiều, sự hiểu biết ít, các biểu tượng tích luỹ còn hạn chế; các em còn nặng về tư duy thực nghiệm, tư duy hình tượng cụ thể. 
Việc xây dựng các khái niệm đòi hỏi phải lấy “phương tiện trực quan” làm điểm tựa cho quá trình nhận thức. Hơn nữa các phương tiện trực quan còn phát huy được ở các em tính tích cực, tính tự lực, chủ động sáng tạo trong việc dành lấy tri thức dưới sự tổ chức và chỉ đạo của thầy, do đó kiến thức sẽ sâu sắc và chắc chắn hơn. Chúng tạo hứng thú nhận thức cho học sinh mà hứng thú nhận thức là yếu tố tâm lí ban đầu có tác dụng đối với quá trình nhận thức.
Rõ ràng là ở đây học sinh phải tập trung quan sát và tư duy tích cực( so sánh, đối chiếu) để chiếm lĩnh tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên qua cách đàm thoại gợi mở. Tri thức dành được chính là từ sự quan sát, thí nghiệm do giáo viên biểu diễn với sự nỗ lực suy nghĩ của bản thân học sinh chứ không phải do giáo viên cung cấp .
Đối với việc dạy học sinh học, đồ dùng dạy học trực quan càng có ý nghĩa quan trọng trong giảng dạy sinh học.Vì nó được vận dụng một cách rộng rãi, không vì nó có ý nghĩa to lớn trong việc nhận thức mà các em có điều kiện thuận lợi để thực hiện.
Xung quanh các em thế giới sinh vật rất đa dạng, phong phú cùng với các hoạt động sống, luôn diễn ra gần gũi với các em. Từ đó người giáo viên có thể hướng vào đó mà lựa chọn dùng làm các phương tiện trực quan, nghiên cứu và giảng dạy học tập. Để thực hiện dạy học qua đồ dùng trực quan các bước tiến hành cụ thể như sau: 
*Bước 1: Phân nhóm các phương pháp dạy học trực quan:
Nhóm 1: Dạy học trực quan (hay còn gọi là trình bày trực quan) là phương pháp dạy học sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, khi củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Phương pháp dạy học trực quan được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trình bày:
+ Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng,...
+ Trình bày thường gắn liền với việc thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video. Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn thận về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, điểm xuất phát trong quá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn.
Thông qua sự trình bày thí nghiệm của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập được những động tác mẫu mực của giáo viên, nhờ vậy, dễ dàng hình thành kỹ năng, kỹ xảo biểu diễn thí nghiêm.
 	Nhóm 2: Phương pháp quan sát:
Quan sát là sự tri giác có chủ đích, có kế hoạch tạo khả năng theo dõi tiến trình và sự biến đỗi diễn ra trong đối tượng quan sát. Quan sát là hình thức cảm tính tích cực nhằm thu nhấp những sự kiện ,hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tượng của thế giơi xung quanh. Quan sát được học sinh sử dụng khi giáo viên trình bày phương tiện trực quan,phương tiện dạy học hoặc khi chính học sinh tiến hành làm viêc trong phòng thí nghiệm. Căn cứ vào cách thức quan sát có thể phân ra quan sát tiếp,quan sát gián tiếp: Căn cứ vào thời gian quan sát có thể phân ra quan sát ngắn hạn, quan sát dài hạn.
+ Căn cứ vào phạm vi quan sát có thể phân ra quan sát toàn diện, quan sát khía cạnh.
+ Căn cứ vào mức độ tổ chức quan sát có thể phân ra quan sát tự nhiên và quan sát có bố trí, sắp xếp.
* Bước 2: Xác định yêu cầu cơ bản của việc sử dụng dạy học qua đồ dùng trực quan:
- Lựa chọn thận trọng các đồ dùng trực quan sao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu của tiết học.
- Giải thích rõ mục đích trình bày những đồ dùng trực quan theo một trình tự nhất định tuỳ theo nội dung bài giảng.
- Các đồ dùng đó cần chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo, tìm mọi biện pháp giải thích rõ ràng nhất những hiện tượng, diễn biến quá trình và kết quả của chúng, những biện pháp hướng dẫn học sinh quan sát để phát hiện nhanh những dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng.
- Cần tính toán hợp lý số lượng đồ dùng trực quan phù hợp với nội dung của tiết học. Không tham lam trình bày nhiều đồ dùng để tránh kéo dài thời gian trình bày làm ảnh hưởng đến hiệu quả của tiết học.
- Để học sinh quan sát có hiệu quả cần xác định mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát, hướng dẫn quan sát, cách ghi chép những điều quan sát được. Trên cơ sở đó giúp học sinh rút ra những kết luận đúng đắn, có tính khái quát và biểu đạt những kết luận đó dưới dạng văn nói hoặc văn viết một cách rõ ràng, chính xác.
- Bảo đảm cho tất cả học sinh quan sát sự vật, hiện tượng rõ ràng, đầy đủ, nếu có thể thì phân phát các vật thật cho học sinh. Để các đồ dùng trực quan dễ quan sát cần dùng các thiết bị có kích thước đủ lớn, bố trí thiết bị ở nơi cao, chú ý tới ánh sáng, tới những quy luật cảm giác, tri giác.
- Chỉ sử dụng những phương tiện dạy học khi cần thiết. Sau khi sử dụng xong nên cất ngay đi để tránh làm mất sự tập trung chú ý của học sinh.
	- Đảm bảo phát triển năng lực quan sát chính xác của học sinh.
	- Đảm bảo phối hợp lời nói với việc trình bày các đồ dùng trực quan và phương tiện kỹ thuật dạy học. Có bốn hình thức phối hợp như sau:
+ Hình thức phối hợp thứ nhất: Dưới sự chỉ đạo bằng lời của giáo viên, học sinh quan sát trực tiếp các sự kiện, hiện tượng. Từ đó, chính học sinh rút ra những thuộc tính, những mối quan hệ của chúng, những kết luận không cần suy lý.
+ Hình thức phối hợp thứ hai: Trên cơ sở quan sát các đối tượng và dựa vào tri thức đã học của học sinh, giáo viên dẫn dắt học sinh biện luận, nêu ra các mối liên hệ giũa những hiện tượng bằng các biện pháp quy nạp, từ đó rút ra kết luận.
	+ Hình thức phối hợp thứ ba là biện pháp minh hoạ đối với những hiện tượng đơn giản. Bằng lời nói giáo viên thông báo trước những hiện tượng, sự kiện, kết luận rồi sau đó trình bày đồ dùng trực quan nhằm minh hoạ điều đã trình bày. Hình thức này ngược với trường hợp thứ nhất.
+ Hình thức phối hợp thứ tư là hình thức có tính chất suy diễn. Với nội dung phải nghiên cứu phức tạp thì giáo viên bằng lời nói mô tả diễn biến của hiện tượng, kích thích học sinh tái hiện những tri thức đã học có liên quan đến hiện tượng để giải thích hiện tượng đó. Tiếp đó, giáo viên trình bày đồ dùng trực quan để minh hoạ nhằm khẳng định những điều đã trình bày của mình. Hình thức phối hợp này ngược với hình thức thứ hai.
- Hai hình thức phối hợp đầu đòi hỏi học sinh phải tiến hành hoạt động nhận thức tích cực hơn hai hình thức phối hợp sau. Song phải căn cứ vào tính chất nội dung, trình độ tri thức và trình độ phát triển của học sinh mà lựa chọn hình thức nào cho thích hợp.
+ Bước 3: Thực hiện bài dạy theo trình tự sau:
- Nghiên cứu bài dạy trong sách giáo khoa.
- Tìm các tư liệu trong sách giáo viên và các tài liệu tham khảo khác.
- Bố trí thời gian tìm mua hoặc tự làm các đồ dùng trực quan theo khả năng của bản thân về kinh phí và thiết bị. 
- Các tiết dạy thực dạy và rút kinh nghiệm qua nhận xét của đồng nghiệp.
- Lấy ý kiến của học sinh về việc dạy qua đồ dùng dạy học trực quan hoặc ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học sinh học so với những giờ học mang tính truyền thống.
- Tổng hợp kết quả, tự điều chỉnh các đồ dùng trực quan cho các bài dạy của năm học sau.
*Một số bài giảng minh họa: 
LỚP LƯỠNG CƯ
TIẾT 37- ẾCH ĐỒNG
I. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC: Giáo viên cần chuẩn bị:
- Mô hình ếch đồng
- Mẫu vật: Con ếch đồng sống
- Đồ dùng: 1 bình nhựa to để không, 1 bình đựng nước
- Tranh phóng to H35.1 35.4 SGK - 113, 114
- Tư liệu sưu tầm về đời sống của ếch đồng
II. NỘI DUNG DẠY- HỌC QUA ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN :
Hoạt động GV
Cách sử dụng đồ dùng trực quan
Hoạt động của HS
Nội dung
Hoạt động 1: Tìm hiểu đời sống của ếch đồng
-Yêu cầu quan sát hình ảnh, ếch thả trong nước, trả lời câu hỏi:
+ Thường gặp ếch đồng ở đâu?
+ Thức ăn của ếch đồng là gì ?
→ Những loại thức ăn của ếch nói lên điều gì?
+ Ếch kiếm ăn vào thời gian nào ?
+ Thường gặp ếch đồng vào mùa nào?
à Liên hệ vai trò của ếch 
- Ếch trong nước, ăn giun...
- Hình ảnh con ếch trong tự nhiên:
+ Ảnh con ếch đang đớp mồi
+ Ảnh ếch kiếm ăn ban đêm
+ Ảnh cơn mưa và con ếch
+ Tư liệu về đời sống ếch đồng
-Quan sát 
- Trả lời câu hỏi
I. Đời sống
- Ếch có đời sống vừa ở nước vừa ở cạn (nơi ẩm ướt)
- Kiếm ăn vào ban đêm
- Có hiện tượng trú đông
- Là đv biến nhiệt
Hoạt động 2: Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo ngoài và di chuyển
- Quan sát H35.2 SGK 113, ếch đồng trong bình thí nghiệm, mô tả động tác di chuyển trên cạn?
- Quan sát H35.3 SGK 113,ếch đồng trong bình thí nghiệm, mô tả động tác di chuyển trong nước?
- Ếch có những hình thức di chuyển nào?
- Quan sát ếch đồng, mô hình, hình sách giáo khoa
- Hoàn thành bảng SGK – 114 ?
+ Nêu những đặc điểm cấu tạo ngoài của ếch thích nghi với đời sống ở nước ? 
+ Nêu những đặc điểm cấu tạo ngoài của ếch thích nghi với ở cạn ? 
- Bình không, có ếch ở trong để quan sát tư thế di chuyển trên cạn
- Bình đầy nước, có ếch ở trong để quan sát ếch bơi
- Đoạn phim tổng kết các hình thức di chuyển của ếch
- Cầm con ếch trên tay và cho HS sờ tay trên da, xem các chi của ếch, quan sát mắt, tai...
- Mô hình ếch để HS trình bày theo nhóm
- Tổng kết trên bảng phụ có vẽ hình con ếch và các chú thích rời về đặc điểm cấu tạo
- HS trả lời
- HS thảo luận nhóm hoàn thành bảng.
- HS dựa trên bảng kiến thức vừa làm, trả lời
- HS trình bày trên mô hình hoặc trên mẫu vật
- HS trình bày trên mô hình hoặc mẫu vật
-Học sinh trình bày
-Học sinh tự thu nhận kiến thức
II. Cấu tạo ngoài và di chuyển
1. Di chuyển
- Nhảy cóc (trên cạn)
- Bơi (dưới nước)
2. Cấu tạo ngoài
-Bảng sgk
àĐặc điểm cấu tạo ngoài của ếch thích nghi với đời sống vừa ở nước , vừa ở cạn
Hoạt động 3: sinh sản và phát triển ở ếch
Quan sát tranh minh họa hiện tượng sinh sản ở ếch
+ Ếch sinh sản vào mùa nào?
+ Đến mùa sinh sản ếch có hiện tượng gì?
+ So sánh sự thụ tinh của ếch và sự thụ tinh của cá ?
+ Vì sao sự thụ tinh của ếch gọi là thụ tinh ngoài?
+ Đặc điểm phát triển của ếch ?
- Tranh, ảnh về hiện tượng ghép đôi ở ếch
- Bảng phụ để so sánh
- Bảng phụ để gắn các chú thích về sự phát triển của ếch
- HS trả lời theo tranh
- HS trả lời
- HS trình bày trên sơ đồ
III. Sinh sản và phát triển
* Sinh sản:
- Sinh sản vào cuối mùa xuân
- Thụ tinh ngoài, đẻ trứng
* Phát triển:
sgk
Những hình ảnh về đồ dùng trực quan trong bài:
2.4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài được viết theo kế hoạch đã đề ra từ đầu năm học vì vậy trong quá trình giảng dạy tôi đã không ngừng tìm tòi và bổ sung bộ đồ dùng dạy học của mình: Các phiếu học tập tìm hiểu kiến thức bài mới, bộ tranh ảnh sưu tầm theo các chủ đề, hình minh họa cho các bài ôn tập, mẫu vật sống theo các nội dung bài học cho phù hợp, đồ dùng tự làm Các đồ dùng được sử dụng trong các giờ học đã đạt kết quả tương đối tốt. Trong thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài này tôi thấy kết quả của việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan đã mang lại kết quả khả quan hơn so với phương pháp dạy học truyền thống. Nhờ các đồ dùng dạy học trực quan kết hợp với tính năng hiện đại của internet mà các em nắm bắt kiến thức nhanh hơn, hào hứng khi bài học bắt đầu và ham muốn tìm hiểu rộng hơn các vấn đề mà bài học yêu cầu. Các phương pháp dạy học trực quan nếu được sử dụng khéo léo sẽ làm cho các đồ dùng trực quan tạo nên nguồn tri thức. Chức năng đó của chúng chủ yếu gắn liền với sự khái quát những hiện tượng, sự kiện với phương pháp nhận thức quy nạp. Chúng cũng là phương tiện minh hoạ để khẳng định những kết luận có tính suy diễn và còn là phương tiện tạo nên những tình huống vấn đề và giải quyết vấn đề. Vì vậy phuơng pháp dạy học qua đồ dùng trực quan góp phần phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.
- Với phương pháp dạy học qua đồ dùng trực quan sẽ giúp học sinh huy động sự tham gia của nhiều giác quan kết hợp với lời nói sẽ tạo điều kiện dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát, óc tò mò khoa học của học sinh.
Qua phiếu lấy ý kiến từ học sinh những lớp tôi phụ trách về tác dụng của đồ dùng dạy học trực quan thì 100% trả lời: Giúp các em tiếp thu bài tốt hơn và thích học môn Sinh học hơn. Kết quả cụ thể như sau : 
Lớp
Chất lượng
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu+ Kém
 Lớp dạy có sử dụng đồ dùng trực quan
28%
62%
10%
0%
Lớp dạy theo cách truyền thống
8%
20%
64%
8%
Qua kết quả trên cho thấy việc giảng dạy qua đồ dùng dạy học trực quan là khá thành công và thu được kết quả cao. Kết hợp cùng nhiều phương pháp khác trong giảng dạy tạo nhiều ưu thế trong việc nân

File đính kèm:

  • docbao_cao_bien_phap_huong_dan_hoc_qua_do_dung_truc_quan_trong.doc