Báo cáo biện pháp Đổi mới phương pháp dạy học các tác phẩm ca dao - Dân ca trong chương trình ngữ văn lớp 7 THCS

1. Tìm hiểu bằng cách đọc, nghiên cứu tài liệu về phương pháp giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại. Các bài viết có tính chất khoa học và đã thành giáo trình giảng dạy.

2. Tham khảo ý kiến cũng như phương pháp giảng dạy các tác phẩm thuộc thể loại trữ tình của đồng nghiệp thông qua các buổi học chuyên đề, dự giờ thăm lớp.

3. Lấy thực nghiệm việc giảng dạy văn học ở trên lớp những bài ca dao – dân ca đặc biệt là những bài giàu giá trị nghệ thuật và đánh gái kết quả nhận thức của học sinh, để từ đó tìm hiểu nguyên nhân rút ra hướng rèn luyện học sinh.

 

doc 25 trang Chí Tường 21/08/2023 540
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo biện pháp Đổi mới phương pháp dạy học các tác phẩm ca dao - Dân ca trong chương trình ngữ văn lớp 7 THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo biện pháp Đổi mới phương pháp dạy học các tác phẩm ca dao - Dân ca trong chương trình ngữ văn lớp 7 THCS

Báo cáo biện pháp Đổi mới phương pháp dạy học các tác phẩm ca dao - Dân ca trong chương trình ngữ văn lớp 7 THCS
lao động
	(3) Ca dao nghi lễ phong tục
	(4) Ca dao ru con
	(5) Ca dao trữ tình
	(6) Ca dao trào phúng
 Trong nhà trường THCS – THPT chủ yếu học sinh được học phần lời ca (tức là ca dao) nên đề tài này tôi chủ yếu đề cập đến ca dao.
4. Đặc trưng của ca dao – dân ca.
4.1. Hệ đề tài.
 Vì là phần lời của những câu hát dân gian nên ca dao thiên về tình cảm và biểu hiện lòng người, phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của con người. Thực tại khách quan được phản ánh thông qua tâm trạng con người, nó thể hiện vẻ đẹp trang trọng ngay trong đời thường con người.
4.2. Chức năng.
 Là “tấm gương của tâm hồn dân tộc” là “một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình” (F.He ghen).
4.3. Đặc điểm thi pháp.
 a) Ngôn ngữ trong ca dao.
 Nói đến thi pháp ca dao, trước hết phải nói đến phương tiện chủ yếu của ca dao, tức là ngôn ngữ. Bởi vì ca dao là phần lời của dân ca, cái yếu tố nhạc điệu, động tác có vai trò rất quan trọng trong dân ca, còn ở phần lời thơ thì vai trò chủ yếu thuộc về ngôn ngữ, các yếu tố khác đều trở thành thứ yếu. Chính vì vậy mà ca dao có khả năng sống độc lập ngoài ca hát (tức là ngoài sự diễn xướng tổng hợp của dân ca) và trở thành nguồn thơ trữ tình dân gian truyền thống lâu đời và phong phú nhất của dân tộc.
 Ngôn ngữ trong ca dao đậm đà màu sắc địa phương, giản dị, chân thực, hồn nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân. Ví dụ như bài ca dao:
	“Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát
	Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông”.
	Thân em như chẽn lúa đòng đòng
	Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai
(Trong đó ni = này; tê = kia: tiếng địa phương miền Trung)
 Có nhiều bài ca dao được lan truyền nhanh chóng trở thành tiếng nói riêng của nhân dân nhiều địa phương khác nhau nhờ sự thay đổi địa danh là chủ yếu. Ví dụ:
	 Đường vô xứ Huế quanh quanh	
	Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
	 Ai vô xứ Huế thì vô ...
 b) Thể thơ trong ca dao.
 Ca dao là phần lời của dân ca, do đó các thể thơ trong ca dao cũng sinh ra từ dân ca. Các thể thức trong ca dao cũng được dùng trong các loại văn vần dân gian khác (như tục ngữ, câu đố, vè ...) . Có thể chia các thể thơ trong ca dao thành bốn loại chính là:
	- Các thể văn
	- Thể lục bát
	- Thể song thất và song thất lục bát
	- Thể hỗn hợp (hợp thể).
 Trong SGK Ngữ văn 7 tập I các bài ca dao được đưa vào chủ yếu là thể lục bát (mỗi câu gồm hai dòng hay hai vế, dòng trên sáu âm tiết, dòng dưới tám âm tiết nên được gọi là “thượng lục hạ bát”). Đây cũng là thể thơ sở trường nhất của ca dao. Thể thơ này được phân thành hai loại là lục bát chính thể (hay chính thức) và lục bát biến thể (hay biến thức). Ở lục bát chính thể, số âm tiết không thay đổi (6 + 8), vần gieo ở tiếng thứ sáu (thanh bằng), nhịp thơ phổ biến là nhịp chẵn (2/2/2...), cũng có thể nhịp thay đổi (3/3 và 4/4) . Ở lục bát biến thể, số tiếng (âm tiết) trong mỗi vế có thể tăng, giảm (thường dài hơn bình thường).
Ví dụ: 	Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát
	Đứng nên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông
	 (12 âm tiết)
 c) Kết cấu của ca dao.
 * Thể cách của ca dao.
“Phú”, “tỉ”, “hứng” là ba thể cách của ca dao (cách phô diễn ý tình).
- “Phú” ở đây có nghĩa là phô bày, diễn tả một cách trực tiếp, không qua sự so sánh.
Ví dụ:	
 Cậu cai nói dấu lông gà
	Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.
	Ba năm được một chuyến sai,
	Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.
- “Tỉ” nghĩa là so sánh (bao gồm cả so sánh trực tiếp - tỉ dụ và so sánh gián tiếp - ẩn dụ).
Ví dụ:	
 Thân em như trái bần trôi,
	Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu ?
- “Hứng” là cảm hứng. Người xưa có câu “Đối cảnh sinh tình”. Những bài cao dao trước nói đến “cảnh” (bao gồm cả cảnh vật, sự việc) sau mới bộc lộ “tình” (tình cảm, ý nghĩa, tâm sự) đều được coi là làm theo thể “hứng”.
Ví dụ:	
 Ngó lên nuộc lạt mái nhà,
	Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.
 * Phương thức thể hiện.
Những bài ca dao trong SGK Ngữ văn 7 chủ yếu có ba phương thức thể hiện đơn là:
- Phương thức đối lập (đối thoại), chủ yếu là bộ phận lời ca được sáng tác và sử dụng trong hát đối đáp nam nữ, bao gồm cả đối thoại hai vế và một vế.
Ví dụ: Đối thoại hai vế:
	Ở đâu năm cửa nàng ơi
	Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng ?
	Sông nào bên đục, bên trong ?
	Núi nào thắt cổ bồng mà có thanh sinh ?
	Đền nào thiêng nhất xứ Thanh
	Ở đâu mà lại có thành tiên xây ?
	Thành Hà Nội năm cửa nàng ơi
	Sông lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng
	Nước sông Thương bên đục bên trong, 
	Núi Đức Thánh Tản thắt cổ bồng lại có thánh sinh
	Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh
	Ở trên tỉnh Lạng có thành tiên xây”
- Phương thức trần thuật (hay kể chuyện trữ tình, khác với trần thuật trong các loại tự sự).
Ví dụ:	
 Con cò chết rũ trên cây,
	Cò con mở lịch xem ngày làm ma.
	Cà cuống uống rượu la đà,
	Chim ri ríu rít bò ra lấy phần.
	Chào mào thì đánh trống quân
	Chim chích cởi trần, vác mõ đi giao”
- Phương thức miêu tả (miêu tả theo cảm hứng trữ tình, khác với miêu tả khách quan trong các thể loại tự sự).
Ví dụ:	
	 Đường vô xứ Huế quanh quanh 
	Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
	Ai vô xứ Huế thì vô ...
- Ngoài ra còn có cả ba phương thức kép là (trần thuật kết hợp với đối thoại, trần thuật kết hợp với miêu tả; kết hợp cả ba phương thức).
- Do nhu cầu truyền miệng và nhu cầu ứng tác, nhân dân thường sử dụng những khuân, dạng có sẵn, tạo nên những đơn vị tác phẩm hoặc dị bản hao hao như nhau. 
Ví dụ: “Thân em như”... (“hạt mưa sa”, “hạt mưa rào”, “tấm lụa đào”, “trái bần trôi”...)
 d) Thời gian và không gian trong ca dao.
 * Thời gian:
- Thời gian trong ca dao vừa là thời gian thực tại khách quan vừa là thời gian của tưởng tượng, hư cấu mang tính chất chủ quan của tác giả.
- Ca dao có rất nhiều câu mở đầu bằng hai tiếng “chiều chiều”, “Chiều chiều xách giỏ hái rau”, “Chiều chiều ra đứng bờ sông”, “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều”... “Chiều chiều” có nghĩa là chiều nào cũng vậy, sự việc diễn ra lặp đi lặp lại.
- Ngoài ra thời gian trong ca dao còn sử dụng hàng loạt những trạng ngữ (hay cụm từ) chỉ thời gian như: “bây giờ”, “tối qua”, “đêm qua”... thì ai cũng hiểu là người nói đang ở thời điểm hiện tại để nhớ và nhắc lại chuyện vừa xảy ra chưa lâu. Nhìn chung thời gian trong ca dao trữ tình là thời gian nghệ thuật mang tính tượng trưng, phiếm chỉ (hay phiếm định). Vì thế nó phù hợp với nhiều người, ở nhiều địa điểm và thời điểm khác nhau.
 * Không gian:
- Không gian trong ca dao cũng vừa là không gian thực tại khách quan, vừa là không gian trong trí tưởng tượng mang tính chất tượng trưng của tác giả.
- Khi không gian thuộc về “đối tượng phản ánh, miêu tả thì là không gian thực tại được tái hiện trong ca dao”. Ví dụ: xứ Huế, xứ Thanh, sông Lục Đầu, sông Thương ... và những nơi khác trong ca dao, nhất là cao dao về phong cảnh và sản vật các địa phương.
Ví dụ:	
 Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
	Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
 Cũng giống như thời gian, khi không gian được nói đến như một yếu tố góp phần tạo nên hoàn cảnh, trường hợp để tác giả bộc lộ cảm nghĩ (trực tiếp hoặc gián tiếp) thì đó là không gian mang tính chất tượng trưng do tác giả tưởng tượng, hư cấu hoặc tái tạo theo cảm xúc thẩm mỹ của mình. Ví dụ: những hình ảnh về không gian, địa điểm mang tính chất tượng trưng, phiếm chỉ, thường xuyên xuất hiện trong ca dao trữ tình (“cánh đồng”, “thác”, “ghềnh”, “bờ ao”, “mái nhà”, “ngõ sau”...). Ngay cả những địa điểm có thực khi vào ca dao trữ tình cũng mang tính chất tượng trưng.
 d) Thủ pháp nghệ thuật chủ yếu:
 Những bài ca dao được đưa vào SGK Ngữ văn 7 có nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau (mang nét đặc trưng của ca dao truyền thống). Ở đây tôi chỉ đề cập đến những thủ pháp chủ yếu.
 - So sánh là thủ pháp nghệ thuật được dùng thường xuyên, phổ biến nhất, bao gồm so sánh trực tiếp (tỉ dụ), so sánh gián tiếp (ẩn dụ). Tỉ dụ là so sánh trực tiếp, thường có những từ chỉ quan hệ so sánh: như, như là, như thể ... đặt giữa hai về (đối tượng và phương tiện so sánh).
Ví dụ:	
 - Đường vô xứ Huế quanh quanh
	Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
	- Thân em như chẽn lúa đòng đòng
	Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
	- Yêu nhau như thể chân tay
	Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.
	- Công cha như núi ngất trời
	Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông.
 - Còn ở ẩn dụ (so sánh ngầm) thì không những không có quan hệ từ so sánh mà đối tượng so sánh cũng được ẩn đi, chỉ còn một vế là phương tiện so sánh (ở đây đối tượng và phương tiện so sánh hòa nhập làm một). Do vậy mà hình thức ẩn dụ hàm súc hơn tỉ dụ.
 Ví dụ bài ca dao sau là tập hợp bốn hình ảnh ẩn dụ, mỗi hình ảnh ám chỉ một cảnh ngộ đáng thương của người lao động:
	Thương thay thân phận con tằm
	Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ
	Thương thay lũ kiến tí ti,
	Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.
	Thương thay hạc lánh đường mây,
	Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.
	Thương thay con cuốc giữa trời,
	Dầu kêu ra máu có người nào nghe.
 Đặc biệt ẩn dụ gắn rất chặt với nghệ thuật nhân hóa, dùng thế giới loài vật để nói thế giới loài người.
 Ví dụ bài ca dao dưới đây mỗi con vật tượng trưng cho một loại người, hạng người trong xã hội xưa:
 Con cò chết rũ trên cây,
	Cò con mở lịch xem ngày làm ma.
	Cà cuống uống rượu la đà,
	Chim ri ríu rít bò ra lấy phần.
	Chào mào thì đánh trống quân,
	Chim chích cởi trần vác mõ đi giao.
 - Biện pháp nghệ thuật đối xứng (đổi ý, đối từ):
Ví dụ:	
 Số cô chẳng giầu thì nghèo
	Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà.
	Số cô có mẹ có cha
	Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.
	Số cô có vợ có chồng
	Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.
- Nghệ thuật trùng điệp (bao gồm cả điệp ý, điệp từ).
Ví dụ:	
 Cái cò lặn lội bờ ao
	Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng
	Chú tôi hay tửu hay tăm
	Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
	Ngày thì ước những ngày mưa
	Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.
 - Nghệ thuật phóng đại được sử dụng hầu hết ở những bài ca dao dùng để châm biếm:
Ví dụ:	
 Cậu cai nón dấu lông gà
	Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai
	Ba năm được một chuyến sai,
	Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.
Ngoài ra còn có một số biện pháp khác nữa.
4.4. Phương thức diễn xướng.
Phương thức diễn xướng gắn liền với các hình thức nghệ thuật của dân ca (hát ru, hát, hò đối đáp ...)
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
1. Thuận lợi:
Những năm học vừa qua tôi đã được trực tiếp giảng dạy Ngữ văn của các lớp 7. Trong quá trình giảng dạy, tôi thấy học sinh tiếp thu bài tương đối đều, số học sinh khá ở các môn chiếm tỷ lệ cao, học lực trung bình khá trở lên nhiều, các em có tinh thần ham học hỏi, hăng say phát biểu ý kiến xây dựng bài, chuẩn bị bài tương đối đầy đủ trước khi đến lớp.
Xác định đây là môn học quan trọng, chiếm số tiết cao trong chương trình học cho nên đa số học sinh có ý thức học tốt đầu tư nhiều thời gian.
Bản thân tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng nghiệp.
Tài liệu tham khảo của giáo viên và học sinh phong phú, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tạo điều kiện cho giáo viên tham gia học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo kịp với xu thế đổi mới hiện nay.
2. Khó khăn:
Nhà trường tuy đã được trang bị máy chiếu, máy vi tính nhưng trình độ tin học của một số giáo viên còn chưa cao.
Một số học sinh trước khi đến lớp không học bài cũ, không chuẩn bị bài mới, một số em không có đồ dùng đầy đủ, do vậy làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giờ dạy.
Một số học sinh vào đầu năm học ý thức chuẩn bị bài còn chưa tốt, khả năng đọc - hiểu còn chậm, đặc biệt là khả năng nói còn rất kém.
Một số em học sinh khi tìm hiểu bài không tuân thủ các bước: đọc văn bản, tìm hiểu phần chú thích, tìm hiểu nội dung và nghệ thuật, liên hệ với thực tế,do đó dẫn đến việc các em soạn bài và hiểu văn bản còn sơ sài. 
Học sinh còn phụ thuộc vào nhiều sách tham khảo.
III. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH:
1. Giới thiệu bài:
 Mặc dù chỉ chiếm vài ba phút nhưng đây là khâu quan trọng giáo viên không nên bỏ qua. Trong giáo án giáo viên nên thể hiện cả dự kiến vào bài, khởi động tạo tình huống gây hứng thú học tập cho học sinh ngay từ phút đầu, có thể bằng câu hỏi tích hợp dọc. 
 Ví dụ khi dạy văn bản: Ca dao – dân ca
	Những câu hát về tình cảm gia đình
 Đây là tiết đầu tiên học sinh tìm hiểu khái niệm ca dao – dân ca, nhưng những câu, những bài ca dao các em đã được làm quen, được nghe từ nhỏ, rồi những năm tiểu học vì vậy tôi có thể vào bài như sau:
 Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, được nằm trên chiếc nôi tre chúng ta đã được nghe tiếng ru ầu ơi của bà, của mẹ bằng những câu ca dao – dân ca, nó như dòng suối ngọt ngào, vỗ về, an ủi tâm hồn mỗi người. Khúc hát tâm tình của quê hương đã thấm sâu vào trái tim mỗi người dân Việt Nam mà năm tháng có qua đi cũng không thể phai mờ.
Hỏi: Vậy bây giờ em nào có thể đọc cho cả lớp nghe một vài câu ca dao mà em thuộc hoặc đã được học ở tiểu học.
- Sau đó giáo viên có thể tiến hành hoạt động liên môn khi sử dụng các làn điệu dân ca để gây tình huống.
Hỏi: Trong môn Âm nhạc lớp 6 và lớp 7 các em đã được học một số làn điệu dân ca . Vậy một em hãy nêu rõ tên làn điệu dân ca đó. Nếu có thể em hát một vài câu cho các bạn nghe. (Đó là bài “Đi cấy” dân ca Thanh Hóa - lớp 6 và bài “Lí cây đa” dân ca quan họ Bắc Ninh - lớp 7).
 *Chú ý: Hoạt động liên môn phải hết sức thận trọng, đúng thời điểm với một liều lượng cho phép.
2. Phần dạy bài mới.
 2.1. Đọc – chú thích.
* Đọc:
Về phương pháp dạy tác phẩm trữ tình nói chung và ca dao nói riêng việc đọc là khâu khá quan trọng: phải đọc cho “vang nhạc sáng hình”. Tác phẩm “chỉ được bắt đầu mở ra cho bạn đọc khi nó vang lên trong tâm hồn như một sự độc thoại bên trong” (Marantxman). Vì vậy ở thể loại trữ tình dân gian là ca dao phương pháp “đọc sáng tạo”, và biện pháp “đọc diễn cảm” có một vị trí đặc biệt quan trọng gần như chủ công. Đối với ca dao giáo viên nên cho học sinh đọc được từ mức thấp nhất cho đến mức cao .
- Mức thấp nhất là đọc đúng, tròn vành, rõ chữ, đúng chính âm, chính tả.
- Mức cao hơn là đọc diễn cảm, đọc diễn tả cảm xúc.
- Mức cao nhất của đọc là đọc nghệ thuật (đọc hay). Đọc diễn cảm phải vươn tới tiệm cận với đọc nghệ thuật. Nhưng trong giờ dạy ca dao – dân ca thì đọc nghệ thuật không bao giờ thay thế cho đọc diễn cảm. Nếu có sử dụng đọc nghệ thuật (ngâm thơ, hát ru ...) chỉ với một liều lượng cho phép.
- Đối với trình độ học sinh lớp 7 giáo viên chú ý rèn cho các em kĩ năng đọc diễn cảm. Thông qua việc đọc còn biết được trình độ học sinh.
- Trong chương trình SGK Ngữ văn 7 những người biên soạn sách đã xác định rõ “thể” và chia nhóm của các bài ca dao vừa giúp giáo viên và học sinh xác định được trọng tâm của bài vừa thuận tiện cho việc xác định cách đọc. Tuy nhiên những bài ca dao ở cùng một đề tài thì tình cảm được thể hiện ở mỗi bài không hoàn toàn giống nhau vì vậy mà giáo viên cần phải xác định được điều này để hướng dẫn học sinh cho đúng giọng.
* Chú thích:
Chỉ giảng những chú thích sao, những chú thích liên quan đến nội dung cơ bản của văn bản. Những chú thích khác giáo viên tìm cách kiểm tra học sinh trong quá trình tìm hiểu, phân tích văn bản.
 2.2. Phần đọc – hiểu VB:
 a. Xây dựng hệ thống câu hỏi theo đặc trưng thể loại.
Đặc trưng trong phân môn Văn là đi từ phân tích đến giảng bình. Giáo viên phải xác định được hệ thống câu hỏi phù hợp với đặc trưng thể loại. Như chúng ta đã biết phần lời của những câu hát dân gian thiên về tình cảm và biểu hiện lòng người, thường đan xen ở các cách thể hiện: phú, tỉ hoặc hứng. Nó sống được đến ngày nay là nhờ dân ca. Nhưng khi đưa vào nhà trường đã được văn bản hóa và vì vậy nó cũng được nghiên cứu như một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng trong quá trình dạy học nó cũng cần được làm sống dậy môi trường dân gian ở dạng tinh, đơn giản, đủ để kích thích cảm thụ. Vì ca dao thuộc thể loại trữ tình dân gian cho nên trong quá trình phân tích giáo viên cần tăng cường câu hỏi cảm xúc, hình dung tưởng tượng và các câu hỏi về chi tiết nghệ thuật. Tạo điều kiện cho các em chóng thuộc và tiếp nhận những cách thể hiện độc đáo của ca dao. Ca dao thường nghiêng về vẻ đẹp trang trọng trong đời thường con người. Câu hỏi cảm xúc nghệ thuật cần cố gắng huy động với một khối lượng đáng kể.
 b . Hệ thống câu hỏi cảm xúc.
Là hệ thống câu hỏi tìm ra phản ứng trực giác của người đọc bị tác động bởi nội dung và hình thức của tác phẩm ở mức độ ấn tượng ban đầu. Nó đi sâu vào cảm xúc thẩm mĩ. Trả lời hệ thống câu hỏi này, người đọc xác định được cảm xúc của mình khi đọc xong tác phẩm, thể hiện ấn tượng ban đầu của mình trước hình thức nghệ thuật hay nội dung trực tiếp có tính chất vật chất của tác phẩm. Ngay trong hệ thống nhỏ thứ nhất của loại câu hỏi cảm xúc đó cũng luôn xét đến sự chi phối của thể loại và lứa tuổi để có những câu hỏi vừa sức và không bị “nhàm sáo”, luôn luôn bám sát văn bản . Và rõ ràng, để có được câu hỏi thỏa mãn yêu cầu đó, người dạy cũng như người đọc không thể hời hợt với tác phẩm ngay từ phút đầu. Một số câu hỏi như:
(1). Câu hỏi cảm xúc vật chất.
Loại câu hỏi này thường được sử dụng trong các văn bản thuộc thể loại tự sự.
(2). Câu hỏi cảm xúc nghệ thuật.
Là loại câu hỏi hướng về những rung động ban đầu của học sinh bởi tác động của những hình thức nghệ thuật của tác phẩm, ngữ điệu nhạc tính trong thơ.
Ví dụ:
Hỏi: Kết cấu câu tám “Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” có gì đáng chú ý ?
Học sinh: Có kết cấu “Bao nhiêu... bấy nhiêu” là cách nói tăng cấp thường gặp trong ca dao.
Hỏi: Qua nhạc điệu, vần điệu của bài ca “Công cha như núi ngất trời” đã để lại cho em cảm giác gì ?
Học sinh: Bài ca mang âm điệu ngọt ngào, du dương làm cho em cảm nhận thấy lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu lắng.
Hỏi: Hình thức thể loại của bài ca “ở đâu năm cửa nàng ơi” có gì đặc biệt ?
Học sinh: Đây là thể loại đối đáp thường gặp trong ca dao trữ tình giao duyên cổ truyền Việt Nam.
Hỏi: Các điệp ngữ, đảo ngữ: Đứng bên ni đồng, đứng bên tê đồng, mênh mông bát ngát, bát ngát mênh mông gợi cho người đọc, người nghe cảm giác và ấn tượng gì ?
Học sinh: Gợi cho chúng ta như đang đứng trước một cánh đồng rộng, nhìn hút tầm mắt, từ bên nào nhìn ra đều thấy sự rộng lớn của cánh đồng lúa đang thì con gái.
 c. Hệ thống câu hỏi hình dung tưởng tượng.
Sự tưởng tượng càng phong phú và mãnh liệt thì cảm xúc càng phát triển, khi nghiên cứu vấn đề này cả ĐUĐETXKI và LÊVINÔP đều cho rằng: “Các hình ảnh tưởng tượng của các em khác với biểu tượng của trí nhớ có tính chất cá biệt rõ rệt, hoặc có những dấu hiệu riêng biệt phong phú, hoặc ngược lại chỉ phản ánh cái chung không chỉ có chi tiết hóa một cách rõ ràng và xác định, Giai đoạn khó nhất của tưởng tượng là từ tái tạo đến tổng hợp các dấu hiệu khác nhau thành một hình ảnh toàn vẹn: sự tổng hợp này sẽ dễ dàng hơn nếu nó dựa trên tính chất trực quan của tri giác, đặc biệt để nắm được hình tượng nghệ thuật, học sinh cần phải biết kết hợp việc sử dụng một cách hợp lí tài liệu trực quan với việc độc lập dựa vào mô tả để tìm được hình tượng ... Tưởng tượng, tái tạo, tham gia vào tất cả các hình thức tái tạo của học sinh. Hoạt động sáng tạo ở mọi lứa tuổi này có rất nhiều vẻ. Và nhất là “phản ứng” với cái đẹp là cái mà cuộc sống biểu tượng hay là cái làm cho ta nhớ lại về cuộc sống. Đây là thời điểm để đem lại cho người đọc khoái cảm thẩm mĩ xen lẫn cảm xúc của liên tưởng nhất là khi tác động đến cái đẹp đa dạng của hình tượng.
Hệ thống câu hỏi này thiên về sự hình dung của người đọc. Những câu hỏi giúp học sinh xác nhận sự hình dung của mình dưới tác động của hình tượng văn học. Hệ thống này gồm hai loại tái hiện và tái tạo. Một số câu hỏi:
(1). Hệ thống câu hỏi hình dung tưởng tượng tái hiện.
Hệ thống câu hỏi này đòi hỏi thầy và trò tự xác định bức tranh nghệ thuật trong tâm hồn mình khi đọc văn bản hoặc khêu gợi trí tưởng tượng trong và sau khi đọc.
Ví dụ: Khi dạy đến bài ca “Chiều chiều ra đứng ngõ sau” giáo viên có thể đặt câu hỏi.
Hỏi: Em hình dung như thế nào về bóng dáng người phụ nữ trong bài ca dao này ? Hãy tả cho các bạn nghe.
Học sinh có thể trả lời theo sự tưởng tượng của cá nhân mình: Đó là bóng dáng người phụ nữ cô đơn, đứng nơi ngõ sau trong buổi chiều hưu quạnh, đứng như tạc tượng và

File đính kèm:

  • docbao_cao_bien_phap_doi_moi_phuong_phap_day_hoc_cac_tac_pham_c.doc