Báo cáo biện pháp Một số phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh THCS trong các bài vẽ tranh Đề tài

Mỗi người mỗi nghề đều mang những đặc thù, đặc trưng riêng của từng ngành nghề sao cho phù hợp với từng năng lực sở trường của mình. Nghề dạy học được coi là một nghề cao quý bởi sản phẩm chủ yếu là nhân cách con người. Muốn trở thành con người hữu ích đều phải trải qua sự giáo dục của nhà trường.

Dạy học đã khó, dạy học mĩ thuật lại càng khó hơn. Bởi ngoài việc dạy học sinh những kiến thức cơ bản thì việc học mĩ thuật còn phải đem lại niềm vui cho mọi người, làm cho mọi người nhìn ra cái đẹp, thấy cái đẹp của chính mình, xung quanh mình để cuộc sống trở lên gần gũi đáng yêu hơn. Đồng thời học mĩ thuật giúp mọi người tự tạo ra cái đẹp cho bản thân theo cách hiểu, cách lý giải của mình, làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa, tươi vui, hạnh phúc.

Dạy và học mĩ thuật ở trường THCS không nhằm đào tạo ra họa sĩ hay người làm nghệ thuật mà nhằm giáo dục thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh, chủ yếu cho học sinh tiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp, vận dụng cái đẹp vào trong cuộc sống hàng ngày cho bản thân, gia đình và xã hội. Để làm được điều này cần hiểu về cách nhìn, cách cảm nhận, cách lý giải sự vật hiện tượng của học sinh hay nói cách khác là “ ngôn ngữ tạo hình” trong bộ môn mĩ thuật mà cụ thể ở đề tài nghiên cứu này được tìm hiểu thông qua phân môn vẽ tranh. Việc tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ tạo hình ở học sinh THCS sẽ giúp cho giáo viên giảng dạy đánh giá một cách tích cực, đúng đắn, gây hứng thú cho cả người học và người dạy. Giúp người dạy tìm ra được phương pháp, cách thức giảng dạy phù hợp với từng đối tượng, lứa tuổi. Tuy nhiên dạy như thế nào? dạy thật tốt hay bình thường còn phụ thuộc vào ý thức đạo đức nghề nghiệp của mỗi chúng ta đồng thời phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của mỗi giáo viên.

 

doc 19 trang Chí Tường 21/08/2023 880
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo biện pháp Một số phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh THCS trong các bài vẽ tranh Đề tài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo biện pháp Một số phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh THCS trong các bài vẽ tranh Đề tài

Báo cáo biện pháp Một số phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh THCS trong các bài vẽ tranh Đề tài
g vào thực tiễn cuộc sống giúp cho cuộc sống ngày thêm hồn nhiên trong mắt trẻ thơ.
III. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là học sinh trường THCS Phan Đình Giót.
Nghiên cứu cách thiết kế, tổ chức các hoạt động trong giờ dạy phân môn vẽ tranh.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu lý thuyết để tìm ra cơ sở lí luận. 
Khảo sát thực tế dạy học mĩ thuật ở trường THCS Phan Đình Giót.
Phân tích, lí giải, đối chiếu và chứng minh.
V. Phạm vi kế hoạch nghiên cứu.
Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài này tôi chỉ đưa ra các cách cơ bản và đơn giản khi thực hiện thiết kế, thực hiện các hoạt động dạy và học trong phạm vi của các tiết ở phân môn vẽ tranh.
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Những nội dung lý luận liên quan trực tiếp đến vấn đè nghiên cứu
Đổi mới PPDH phân môn vẽ tranh
1.1. Khái niệm:
Đổi mới PPDH là đổi mới cách dạy của giáo viên và cách học của HS đểHS tiếp thu kiến thức dễ dàng,nhanh và sâu sắc
1.2. Mục tiêu:
- Giáo dục thẩm mí ,giúp HS hiểu về cái đẹp của thiên nhiên và của tác phẩm Mĩ thuật .Qua đó HS sẽ có cảm hứng tìm tòi và tạo ra cái đẹp,góp phần xây dựng môi trường thẩm mĩ cho xã hội
- Phát triển khả năng tư duy hình tượng,sáng tạo góp phần hình thành phẩm chất con người lao động mới ,đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta hiện nay.
1.3. Những định hướng cơ bản về đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tích cực,chủ động,sáng tạo của HS THCS trong các bài vẽ tranh
Phát huy tính tích cực,chủ động,sáng tạo của HS THCS trong các bài vẽ tranh.GV cung cấp những quy ước chung của một bài vẽ tranh,ngoài ra còn có những gợi ý,so sánh,giới thiệu mà không có công thức,cũng như quy định dứt khoát về lĩnh vực tranh đề tài,để phát huy trí tưởng tượng,sự tìm tòi,và quan trọng hơn là hứng thú học tập cho HS.
2. Thực trạng việc dạy – học Mĩ thuật – phân môn vẽ tranh
2.1. Nhận xét chung:
Mĩ thuật,là một trong những môn học cần thiết cho sự phát triển cân đối,hài hòa của HS.Hiện nay môn mĩ thuật đã đưa vào chương trình học ở bậc THCS của hầu hết các nước trên thế giới.Môn Mĩ thuật là môn học độc lập có mục tiêu,chương trình,SGK,sách hướng dẫn thiết bị riêng cho dạy và học,GVđược đào tạo cơ bản,kết quả học tập của HS được đánh giá một cách nghiêm túc.
Bên cạnh những thế mạnh đã có,việc dạy- học môn Mĩ thuật nói chung và phân môn vẽ tranh nói riêng còn là vấn đề cần suy nghĩ :
2.1.1. Đội ngũ giáo viên dạy Mĩ thuật ở THCS còn thiếu nghiêm trọng về số lượng,nhiều trường THCS chưa dạy Mĩ thuật ,nhất là các trường ở vùng nông thôn, vùng sâu,vùng xa.Không ít giáo viên dạy Mĩ thuật theo kiểu chuyên nghiệp- dạy kỹ thuật vẽ là chủ yếu,chưa chú ý đến mục tiêu là giáo dục thẩm mĩ cho HS
2.1.2. Quản lý và chỉ đạo chưa chặt chẽ thiếu kế hoạch ,dẫn đến chất lượng đào tạo chưa cao,sử dung giáo viên dạy Mĩ thuật chưa thật hợp lý,hiện tượng nơi thiếu nơi thừa là phổ biến.Nhiều trường chưa chú ý quản lý dạy- học Mĩ thuật,ít quan tâm quản lý đến kiểm tra đánh giá chất lượng,đoi khi tự cắt bỏ giờ dạy,giờ học Mĩ thuật để dành cho công việc khác,hoặc xem dạy- học MT là bề nổi ,có tính chất phong trào.Vì vậy dạy Mĩ thuật chưa thực sự phát huy khả năng suy nghĩ,tìm tòi,sáng tạo của HS.
2.1.3. Cơ sở vật chất cho dạy- học Mĩ thuật THCS thiếu thốn, nghèo nàn, chưa được nghiên cứu cách có hệ thống, hãy còn chắp vá, cụ thể là: phòng học bộ môn chưa có, hiếu các trang thiết bị. Đồ dung dạy học chưa đủ và chưa đảm bảo tính thẩm mĩ.
2.2. Quá trình giảng dạy và kết quả học tập của HS đối với phân môn vẽ tranh hiện nay.
- Từ khi triển khai thay SGK và Đổi mới PPDH năm 2002 đến nay, giáo viên đã quen với việc xác định mục tiêu bài học về kiến thức, kĩ năng,thái độ.Theo hướng phát triển các PPDH tích cực,người ta không chỉ quan tâm tới yêu cầu thông hiểu ,ghi nhớ,tái hiện các kiến thức do giáo viên truyền đạt theo SGK ,lặp lại đúng và thành thạo các kĩ năng đã được tập dượt trong tiết học mà còn chú ý tới năng lực nhận thức,rèn luyện các kĩ năng và phẩm chất tư duy phù hợp với nội dung bài học,chú ý các kĩ năng học tập ,phát triển năng lực tự học.Tuy nhiên số tiết học đạt được đầy đủ các tiêu trí trên là không nhiều ,do điều kiện cơ sở vật chất và nhận thức nói trên hầu hết chỉ dừng lại ở các giờ hội giảng của trường hoặc hội giảng huyện. Đa số các giờ học bình thường theo thời khóa biểu diễn ra một cách buồn tẻ theo kiểu thông tin một chiều,GVcũng sử dụng PP vấn đáp nhưng chủ yếu vẫn là thuyết trình và luyện tập,hầu như không có hoạt động theo nhóm,các phương tiện DH cũng không được sử dụng thường xuyên. Các bài vẽ tranh thường lặp đi,lặp lại một số nội dung quen thuộc,HS không được quan sát thiên nhiên,khi vẽ không tìm tòi,suy nghĩ,bài vẽ trở nên dễ dãi,cẩu thả Vấn đề kiểm tra,đánh giá,xếp loại cũng không được đề cao. Vào điểm thường không đúng với kết quả học tập của HS(để đảm bảo 60% số điểm trên TB).Các giờ học ngoại khóa cũng không được thực hiện do điều kiện ở nông thôn,do tính an toàn của HS...
2.3. Nguyên nhân
 Chính là do chưa thực sự nhận thức đúng đắn mục đích, vai trò, vị trí của môn MT trong hệ thống giáo dục phổ thông với giáo dục toàn diện cho HS của một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên, và phụ huynh HS.
3. Các biện pháp đã tiến hành
3.1. PP tìm hiểu để tài : Mục tiêu và nhiệm vụ của PP này ở phạm vi rộng vì ngoài việc HS tìm hiểu đặc điểm nội dung,hình tượng ,đường nét ,màu sắc ,bố cụcthì giáo viên phải truyền được cảm hứng cho HS.
3.1.1. Mục tiêu: Giúp HS: 
- Tiếp cận với bài học,hiểu khái niệm,và hiểu sơ bộ về các nội dung của đề tài
- Biết cách khai thác đề tài
- Cách bố cục ,cách tìm hình tượng
- Cách vẽ màu 
- Giúp HS thấy được tính giáo dục,tính thực tiễn, vẻ đẹp và sự phong phú của đề tài
- Từ đó HS sẽ có cảm hứng tìm tòi,sáng tạo ý tưởng mới.
3.1.2. Giải pháp thực hiện:
- Ở PP này GV có thể kết hợp nhiều PP để HS dễ dàng tiếp cận với nội dung bài học:
 + Sử dụng đồ dùng trực quan: Hướng dẫn HS quan sát các bức tranh của họa sĩ và học sinh mang chủ đề của bài học,hoặc hướng dẫn HS quan sát trực tiếp ngoài thiên nhiên,cảnh sinh hoạt lao động,vui chơichỉ ra cho học sinh thấy đường nét,hình khối,màu sắc gữa thực tế và ở trong tranh.
+ sử dụng PP thuyết trình: Gv giới thiệu đề tài ở phạm vi rộng hơn,giới thiệu để HS được ý nghĩa và tính thực tiễn của chủ đề đối với cuộc sống hàng ngày.
+ Sử dụng PPvấn đáp gợi mở để HS hiểu đề tài ở mức độ sâu hơn,phạm vi rộng hơn ngoài ra gợi mở để Hs có cảm xúc thể hiện được những ý tưởng mới.
*Tóm lại ,dạy phần này cần nhẹ nhàng ,hấp dẫn,có ý nghĩa đến kết quả bài vẽ vì nó gây cảm hứng,lôi cuốn HS đến bài học. Đó là món
khai vị của giờ học.
3.2. PP trực quan : Dạy Mĩ thuật nói chung và phân môn vẽ tranh nói riêng chủ yếu là bằng đồ dùng dạy học.Dạy trên những gì HS nhìn thấy như hình vẽ ,tranh ảnh,cả lời nói diễn cảm có hình ảnh có tính trực quan.PPtrực quan giúp HS lĩnh hội tri thức nhanh cụ thể.Ngoài ra còn tác động đễn xúc cảm của học sinh
3.2.1. Mục tiêu
- Bằng việc sử dụng phương tiện trực quan,giáo viên cung cấp kiến thức cho học sinh từ khái quát đến chi tiết
- HS có cách nhìn toàn diện hơn trước mỗi dạng bài
- Tạo cảm hứng để HS suy nghĩ tìm tòi ý tưởng mới của bài
3.2.2. Giải pháp thực hiện
- Giáo viên nghiên cứu mục tiêu của bài để chuẩn bị đồ dùng dạy học,đảm bảo rõ nội dung ,tránh trùng lặp.Cần phân loại đồ dùng dạy học như mô hình , hình ảnh,tranh hoặc thăm quan.
- Sử dụng đồ dùng dạy học đúng lúc ,đúng chỗ,không lạm dụng. Kết hợp nhịp nhàng giữa lời giảng và động tác chỉ đồ dùng DH cùng với nét vẽ minh họa để cho sự lĩnh hội của học sinh được đồng thời bằng cả thị giác và thính giác 
- Tùy theo nội dung bài dạy GV có cách trình bày đồ dùng dạy học khác nhau.Cụ thể là:
+ Trình bày cùng một lúc để HS có cái nhìn bao quát về nội dung bài học
+ trình bày theo trình tự bài giảng để HS theo dõi từng vấn đề của nội dung bài học
+ giới thiệu đồ dùng dạy học theo từng nội dung xong,cất đi để học sinh tập trung vào nội dung khác.Cuối cùng trình bày tổng thể để chốt lại nội dung tổng quát của bài.
+ Cần chú ý tới vị trí trình bày đồ dùng dạy học: phải có ánh sáng chiếu tới,kích thước to rõ ràng sao cho mọi HS nhìn rõ
- GV cần có kế hoặch sưu tầm bài vẽ tranh của HS hoặc của họa sĩ để làm tư liệu giảng dạy.sau khi đã có tư liệu ,cần phân loại từng bài dạy sao cho sát đối tượng.Chính những bài vẽ của học sinh mới là minh chứng sinh động cho bài dạy,bởi chúng sát nội dung,yêu cầu của bài học phù hợp với khả năng của học sinh,vì vậy có tác dụng khích lệ động viên các em học tập.
Ngoài ra GV cần nghiên cứu, làm đồ dùng dạy học sát với từng bài học và thực tế địa phương. 
 Một dạng đồ dùng trực quan
 Sử dụng tranh vẽ của học sinh làm đồ dùng trực quan
* Tóm lại: Đồ dùng dạy học là ngôn ngữ của Mĩ thuật với đường nét, hình mảng,màu sắc bố cục,hình khối)Dạy học bằng đồ dùng dạy học giúp học sinh lĩnh hội tri thức nhanh,nhớ lâu và hứng thú hơn bởi những phương tiện trực quan đó đã dựng lên một hình ảnh,một khung cảnh sinh động trước học sinh 
3.3. Phương pháp gợi mở có thể kết hợp cùng với các phương pháp khác đó là hệ thống câu hỏi gợi mở hoặc dùng lời nhận xét gợi mởđể HS suy nghĩ,tìm tòi. Phương pháp này phù hợp với tất cả các hoạt động trong giờ học vẽ tranh,vì nó phát huy được khả năng độc lập suy nghĩ,tìm tòi, tính tích cực học tập của mọi học sinh( giỏi ,khá,tb)
3.3.1. Mục tiêu:
- Giáo viên sử dụng phương pháp gợi mở kết hợp với các phương pháp khác để giúp học sinh phát huy tính tích cực,chủ động trong các hoạt động học tập
- Tạo điều kiện để học sinh phát huy khả năng và tư duy theo chiều sâu trong nhận thức thẩm mĩ ,kĩ năng vẽ tranh
- Rèn luyện ý thức tự học,tự nghiên cứu tìm tòi ý tưởng mới cho mỗi bài học
3.3.2. Giải pháp thực hiện
Trước khi dạy bài mới,giáo viên cần nghiên cứu kĩ các tình huống ,các vấn đề cần gợi mở và gợi mở phải phù hợp với lực học của từng đối tượng học sinh. 
Vd1:ở hoạt động Tìm và chọn nội dung đề tài giáo viên có thể gợi mở để khai thác đề tài sâu hơn: “ ngoài các gợi ý vừa nêu cuả đề tài môi trường em còn biết về những hoạt động nào khác? Em hãy miêu tả về hình ảnh đó”.
Vd2: ở đề tài lực lượng vũ trang(mĩ thuật 9) “Em hãy kể tên các binh chủng trong lực lượng vũ trang nhân dân?” đây là câu hỏi khó, HS có thể trả lời thiếu hoặc sai. Nhưng qua câu hỏi này đã tác động đến suy nghĩ và nhu cầu muốn tìm hiểu của học sinh.Lúc này giáo viên có thể sử dụng hình ảnh về các lực lượng vũ trang để giới thiệu về đặc điểm của từng binh chủng.
Hoặc ở hoạt động thực hành có thể gợi mở về cách vẽ: Ví dụ:em thấy nét vẽ này hoặc hình vẽ này đã được đẹp chưa( đối với hs trung bình và yếu),giáo viên cần chỉ ra những sai sót một cách cụ thể đồng thời yêu cầu học sinh tự sửa theo khả năng của mình; “em nhớ lại xem hình ảnh các bạn đang nhảy dây ngoài sân trường như thế nào? ,các động tác ra sao ?(đối với học sinh khá);Các em hãy quan sát lại bài mình và tìm ra những chỗ chưa được đẹp?em có thể sửa chúng đẹp hơn không?(đối với học sinh giỏi).
Những câu hỏi trên có ý nghi vấn,đồng thời tin vào khả năng của học sinh,khích lệ ,động viên để các em tự sửa bài mình đẹp hơn 
Về đánh giá bài vẽ tranh giáo viên cũng có thể sử dụng PP gợi mở để hướng dẫn học sinh tự đánh giá bài trong lớp:
Vd: Em thấy trong lớp có bao nhiêu bạn vẽ đúng đề tài và có bao nhiêu bạn vẽ chưa đúng đề tài? Hoặc em thấy bài nào trong lớp đẹp nhất ? vì sao?
* Tóm lại: PP gợi mở thường được sử dụng rộng rãi cho tất cả các môn học,đặc biệt là môn mĩ thuật vì đây là môn nghệ thuật, đôi khi vấn đề cần khai thác nằm ngoài những công thức,những quy định bắt buộc.Vì vậy PP gợi mở sử dụng rất phù hợp và cho hiệu quả cao, phát huy được sự chủ động, sáng tạo của học sinh.
3.4. Phương pháp vấn đáp đó là hệ thống câu hỏi để học sinh suy nghĩ trả lời về nội dung bài học.Có khi là những câu hỏi đơn lẻ nhằm khai thác một chi tiết một vấn đề nào đó.
Phương pháp này phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh vì được suy nghĩ trước và đoán được nội dung mà giáo viên sẽ giảng, các em sẽ không bị động tiếp thu kiến thức.Phương pháp này không nhất thiết học sinh phải trả lời tất cả các câc hỏi của giáo viên đề ra, hay phải trả lời đúng “răm rắp” về nội dung. Có thể có những học sinh trả lời sai, hoặc không trả lời được thì phương pháp này vẫn mang lại hiệu quả vì: tất cả học sinh đều phải suy nghĩ về bài học; trả lời sai(nếu có) để rồi hiểu rõ, hiểu đúng hơn khi nghe bạn trả lời hoặc giáo viên bổ sung. Các câu hỏi cần ngắn gọn rõ ràng và nên đặt ra trước khi giáo viên hướng dẫn.Vd: chuẩn bị cho học sinh tìm hiểu đề tài, GV nên đặt câu hỏi trước:Nay chúng ta học về chủ đề gì? Em hãy nêu một vài hoạt động thuộc chủ đề trên mà em biết ; Trước khi đánh giá bài vẽ nên đặt câu hỏi trước :?theo em, bài vẽ nào đẹp ?vì sao?
Cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp thuyết trình,phương pháp vấn đáp,phương pháp gợi mở. Lời giảng đan xen với câu hỏi “rành mạch”tạo điều cho học sinh Nghe – Suy nghĩ – Dự đoán.
3.4.1. Mục tiêu
- GV sử dụng hệ thống câu hỏi trong các hoạt động dạy – học giúp học sinh:
+ Khai thác nội dung đề tài
+ Chọn được nội dung mới trong phạm vi đề tài
+ Biết cách bố cục trong khung giấy
+ Vẽ hình phù hợp với nội dung,hài hòa giữa cảnh chính và cảnh phụ
+ Vẽ màu có đậm nhạt, tạo không gian cho bức tranh.
+ HS biết nhận xét và xếp loại bài vẽ trong lớp
3.4.2.Giải pháp thực hiện
- GV nghiên cứu bài trước khi dạy để xác định các tình huống cần hỏi và đặt giả thiết cho những câu trả lời của học sinh, kết hợp thêm các câu hỏi gợi mở mỗi khi học sinh chưa trả được, hoặc trả lời sai.
- Mỗi hoạt động dạy – học cần sử dụng vấn đáp vào đúng trọng tâm kiến trức của hoạt động đó. Vd: ở hoạt động 2(cách vẽ) GV sử dụng 2 bức tranh có bố cục khác nhau và đật câu hỏi: Em thích nhất bố cục nào? vì sao em lại thích bố cục đó?.GV có thể gọi một vài HS trả câu hỏi đó. Lúc này giáo viên có thể phân tích thêm để học sinh biết về cách bố cục nói chung. Hoặc ở phần luyện tập GVcó thể đặt câu hỏi về cách chọn đề tài,những nội dung mới độc đáo ví dụ ngoài những hình ảnh có trong SGK em còn biết về những hình ảnh nào khác?.khi học sinh trả lời được vài nội dung,giáo viên lại đặt câu hỏi tiếp: Em thể hiện một trong những nội dung đó được không? Vì nếu em thể hiện được nội dung đó thì bức tranh sẽ có tính độc đáo,tạo được vẻ đẹp riêng.
* Tóm lại :Có thể nói PP vấn đáp là phương tiện truyền dẫn của những PP khác,là tất yếu trong đổi mới PP.Việc trao đổi giữa giáo viên và học sinh cũng thông qua vấn đáp,ngoài ra còn giúp cho học sinh phát huy được tính tích cực trong học tập.Nếu thực hiện nhuần nhuyễn và có trọng tâm,thì giờ học sẽ sôi nổi mọi học sinh sẽ được phát biểu ý kiến xây dựng bài .Tuy nhiên nếu không thực hiện tốt,hệ thống câu hỏi dườm dà,không trọng tâm kiến thức thì giờ học sẽ mất nhiều thời gian(cháy giáo án). Trên đây là một số giải pháp giúp giáo viên thực hiện nhuần nhuyễn các thao tác trong PP vấn đáp phát huy tốt hơn trong việc đổi mới PPDH.
3.5. PP luyện tập: Môn Mĩ thuật lấy hành làm hoạt động chính,và chỉ có trên cơ sở thực hành thì nhận thức lý thuyết mới rõ dần.Học Mĩ thuật,HS cần được làm nhiều bài tập,có thể là các bài tập sẽ trùng lặp về đề tài,cách tiến hành ,song mỗi bài GVcần gợi mở để HS có cách thể hiện khác nhau từ việc khai thác đề tài, tìm chủ đề,bố cục,xây dựng hình tượng và cách xử lí màu,đậm nhạt
GVcần làm cho học sinh rõ mục đích ,trọng tâm,và mức độ khác nhau cuả các bài tập .Dựa vào trình tự nội dung,vào trình độ học sinh,giáo viên ra các bài tập MTcho phù hợp ,có thể là đơn lẻ,nhằm củng cố,phát triển một đơn vị kiến thức nhỏ.VD: sắp xếp mảng chính,mảng phụ của đề tài phong cảnh.
Hướng dẫn HS làm bài,GVcần tìm ra những thiếu xót về bố cục,vẽ hình,vẽ màu,gợi ý cho các em suy nghĩ và tìm ra cách sửa chữa,điều chỉnh theo khả năng,phù hợp với từng dạng bài của các em.Cần có kế hoạch về PPđối với từng đối tượng HS,mỗi đối tượng HSlại có gợi ý riêng cách bổ xung khác nhau.VD với HS kém thì yêu cầu vẽ được hoàn thành bài tập,đối với HSkhá thì bổ xung bài vẽ đầy đủ,hợp lý hơn; với HS giỏi thì gợi ý ,động viên các em suy nghĩ,tìm tòi thêm ý tưởng mới.
Mục tiêu:
Trong quá trình học sinh làm bài giáo viên hướng dẫn về bố cục,vẽ hìnhvà tô màu.
Kiểm tra và gợi ý để các đối tượng học sinh phát huy hết khả năng của mình
Thông qua thực hành,học sinh được củng cố về kiến thức lý thuyết,biết vận dụng lý thuyết vào thực thành để tạo nên một bài vẽ có hiệu quả.
3.5.2. Giải pháp thực hiện:
Giáo viên giúp học sinh nhớ lại những gì đã nghe ở phần lý thuyết rồi tự tìm cách giải quyết bài tập
Giáo viên quan sát lớp,điều hành thời gian đảm bảo thời gian đúng tiến độ.Cung cấp thêm kiến thức cần thiết cho cả lớp,nếu ở phần giảng lí thuyết chưa có điều kiện hay chưa khắc sâu được cho học sinh
. 
 Học sinh trong giờ luyện tập vẽ tranh
- Chỉ ra thiếu sót ngay trên bài học sinh vì đối với thực hành GV dạy ngay “hiện trạng” bài vẽ của học sinh và HS học ngay trên bài vẽ của mình là tốt nhất,vì tất cả cái sai, cái đúng,cái hợp lí hay chưa hợp lí, cái đẹp hay chưa đẹp đều được biểu hiện một cách rõ ràng ,cụ thể ngay trên từng bài vẽ mà khi nghe giảng chúng chỉ là những thuật ngữ chung chung, trừu tượng ,đôi khi khó hiểu.VD HS vẽ chủ đề lễ hội, giáo viên có thể gợi ý để HS nhớ lại một lễ hội ở quê mình có đặc điểm gì về màu sắc, số lượng người tham gia, các hoạt động, cảnh quan, trang phụcHoặc về đề tài lao động GV gợi ý để học sinh nhớ lại các động tác trồng cây, quét dọn vệ sinh. Ngoài ra hướng dẫn cụ thể về bố cục, cách vẽ hình cho từng em. Trong phần làm bài GV có thể dùng một số bài tốt hoặc chưa tốt để học sinh nhận xét và rút kinh nghiệm . Được sự chỉ dẫn của giáo viên, học sinh nhận ra ngay những thiếu sót , những gì chưa hợp lý ở bài vẽ của mình và tìm cách điều chỉnh cho bài vẽ tốt hơn. Đó chính là cách học mang lại hiệu quả cao, vì HS tự giác học tập.
Đây là một trong những phương pháp đặc thù của môn Mĩ thuật và thường mang lại kết quả khả quan cho bài dạy. GV làm việc với từng HS, góp ý, khích lệ để mỗi em hoàn thành bài vẽ theo khả năng của mình.
3.6. Phương pháp làm việc theo nhóm : phương pháp này phát huy được tính tích cực,chủ động vì các thành viên trong nhóm có điều kiện chia sẻ mọi suy nghĩ băn khoăn,kinh nghiệm,hiểu biết của bản thân,cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới.Mỗi HS có thể nhận thức rõ trình độ của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là tiếp thu thụ động từ GV. Thành công của lớp học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi học sinh, vì vậy phương pháp này còn gọi là” PP huy động mọi người cùng tham gia”, hoặc rút gọn là “PP cùng tham gia”
Theo phương pháp này mọi người dễ hiểu, dễ nhớ hơn vì họ được tham gia trao đổi trình bày vấn đề nêu ra, cảm thấy hào hứng vì trong sự thành công chung của nhóm có sự đóng góp của mình.PP này thường được sử dụng trong phần luyện tập, GV có thể tổ chức các trò chơi hoặc cả nhóm thảo luận rồi cùng hoàn thành bài vẽ. Trong mỗi tiết học nên có từ 2 – 3 hoạt động nhóm và tính tư duy, tích cực của học sinh phải được phát huy triệt để vì ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động.
Từ việc HS đều được tham gia học tập một cách tự giác bằng khả năng của mình. Phương pháp học tập này xây dựng cho học sinh tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng với công việc chung, đồng thời hình thành ở học sinh phương pháp làm việc khoa học- tự lập kế hoạch và làm việc theo kế hoạch.
3.6.1. Mục tiêu
- Giúp học sinh nắm được hình thức hoạt động nhóm
- HS được tham gia vào hoạt động nhóm, rèn luyện kĩ năng triển khai hoạt động nhóm nhanh và có hiệu quả.
- Qua hoạt động nhóm giáo dục cho học sinh có tinh thần tập thể,biết phối hợp với mọi người trong các công việc sau này.
3.6.2. Giải pháp thực hiện
Phương pháp học tập này được tiến hành dưới nhiều hình thức tùy thuộc vào bài tập là câu hỏi hay bài thực hành:
+ Thảo luận câu hỏi: GV có thể chia lớp thành bốn nhóm rồi đặt tên cho các nhóm (tên danh nhân,tên con vật,tên cây cỏ hoa trái, địa danh). Vị trí có thể kê bàn quay mặt vào nhau hoặc ngồi theo nhóm ở các khu vực tùy chọn. Giao c

File đính kèm:

  • docbao_cao_bien_phap_mot_so_phuong_phap_day_hoc_nham_phat_huy_t.doc