Báo cáo biện pháp Một số phương pháp đặc trưng dạy học tích hợp liên môn toán theo mô hình trường học mới

Trong thời đại ngày nay, khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển kéo rất nhiều thứ thay đổi trong đó có giáo dục. Một xu thế tất yếu của nền giáo dục nước ta là phải thay đổi hình thức giáo dục để tạo ra một lớp người mới năng động, tự tin, làm chủ chính mình và biết hợp tác. Trên thế giới việc thay đổi phương thức giáo dục đã diễn ra từ lâu và mang lại nhiều thành công. Hình thức giáo dục mới này chuyển từ cách dạy học truyền thống thầy dạy trò nghe, ghi chép thụ động sang hình thức giáo dục hiện đại trò làm việc trải nghiệm chiếm lĩnh kiến thức, thầy quan sát giúp đỡ. Nổi bật ở hình thức dạy học này còn là cách tổ chức chỗ ngồi, học sinh được ngồi theo nhóm, được tự do thảo luận đưa ra ý kiến của mình.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong thời kỳ hội nhập, thì giáo dục nước ta không ngừng được đổi mới và lần đổi mới này là bước tiến quan trọng trong cải cách giáo dục. Một trong những sự đổi mới mang tính cách mạng về cách dạy và học của nước ta chính là đưa mô hình trường học mới vào trường phổ thông.

Bắt đầu từ năm học 2011 – 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai mô hình trường học mới đối với cấp tiểu học. Năm học 2014 – 2015, triển khai thí điểm thành công đối với cấp THCS ở 6 tỉnh. Năm học 2015 – 2016 nhân rộng ra khắp các tỉnh và thành phố trong cả nước.

Phương pháp dạy và học theo mô hình trường học mới là: Coi quá trình tự học của học sinh là trung tâm hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn, đồng hành với học sinh, giúp học sinh tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Là hình thức dạy học đặt học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó học sinh được tổ chức thành nhóm học tập một cách thích hợp. Cách học này giúp các em rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác.

Đối với cấp THCS, việc rèn cho các em các kỹ năng học hợp tác là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, góp phần vào việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh.

 Trong mô hình trường học mới, giáo viên không phải đứng trên bục giảng gắn liền với phấn trắng bảng đen nữa thì việc chọn lựa các phương pháp, phương tiện hỗ trợ giảng dạy theo mô hình trường học mới như thế nào? Học sinh có tiếp thu được kiến thức đầy đủ và hiệu quả hơn cách dạy và học như hiện nay hay không? Đó luôn là điều trăn trở của các cấp quản lý, giáo viên, phụ huynh, học sinh và của toàn xã hội. Cũng vì đó, làm cho giáo viên chưa đủ tự tin về cả phương pháp cũng như kĩ năng để vận dụng vào quá trình dạy học.

 

doc 33 trang Chí Tường 21/08/2023 1620
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo biện pháp Một số phương pháp đặc trưng dạy học tích hợp liên môn toán theo mô hình trường học mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Báo cáo biện pháp Một số phương pháp đặc trưng dạy học tích hợp liên môn toán theo mô hình trường học mới

Báo cáo biện pháp Một số phương pháp đặc trưng dạy học tích hợp liên môn toán theo mô hình trường học mới
 động . Ở bước này giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động cá nhân rồi đến hoạt động nhóm để các em học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau, giúp cho quá trình học tập hiệu quả hơn.
	1.1.5. Bước 5: Vận dung
	Vận dụng điều đã học để giải quyết các tình huống trong thực hành, giải thích các hiện tượng trong cuộc sống hoặc thay đổi cách làm cũ. 
	Kết quả cần đạt được ở bước 5:
- Học sinh củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học.
- Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày.
- Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới .
Cách làm:
- Học sinh thực hành, vận dụng từng phần, từng đơn vị kiến thức cơ bản của nội dung bài đã học.
- Giáo viên giúp học sinh thấy được ý nghĩa thực tế của các tri thức toán học, từ đó khắc sâu kiến thức đã học.
- Khuyến khích học sinh diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các em, tập phát biểu, tập diễn đạt bước đầu có lí lẽ, có lập luận.
Bước này là hoạt động và . 
Ở bước này giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động với sự trợ giúp của cộng đồng, bạn bè, các nguồn học liệu mà các em có thể tìm được như sách báo, internet.
	Kết quả của bước này sẽ được các em chia sẻ với nhau và báo cáo với thầy cô của mình.
	Chú ý: Tuy không yêu cầu các em phải hoàn thành hết tất cả các hoạt động này, nhưng giáo viên nên khuyến khích và động viên các em để nhằm mục đích rèn luyện và hình thành dần kĩ năng sống.
 2. Phương pháp dạy học theo nhóm
 2.1. Các cách chia nhóm
	Trong thực tế thì có nhiều kiểu nhóm khác, tôi nêu ra 11 kiểu điển hình, cách chia và các hình thức chia các nhóm này. Cách chia như sau:
2.1.1. Nhóm đếm số: Muốn chia lớp thành n nhóm thì chia tổng số học sinh của lớp cho n để xác định số học sinh trong một nhóm. 
Ví dụ: Lớp có 30 học sinh, muốn chia thành 5 nhóm thì yêu cầu học sinh đếm 1,2,3,4;5;6. Yêu cầu những học sinh có số đếm là 1 thì về nhóm 1, những học sinh có số 2 về nhóm 2  
 	Ưu điểm:Tốn ít thời gian, tạo cho học sinh có không khí học tập thoải mái, phong cách nhanh nhẹn, áp dụng được cho tất cả các môn học. 
 	2.1.2. Nhóm biểu tượng: Biểu tượng có thể là: (con vật, cây cối, hình ảnh, các bông hoa  ) Muốn chia lớp thành n nhóm thì bạn phải chuẩn bị n biểu tượng .
Ví dụ: Lớp có 30 học sinh, muốn chia thành 5 nhóm theo biểu tượng là con vật, bạn phải chuẩn bị các con vật như: Chào mào, Vành khuyên, Thỏ ngọc, Sơn ca, Hoàng yến, Sóc nâu chẳng hạn. Mỗi con vật phải có 5 biểu tượng. Cho học sinh chọn các biểu tượng đó, rồi chia nhóm theo biểu tượng từng con vật hoặc nhóm có đủ 6 con vật.
 	Ưu điểm: Tốn ít thời gian, tạo cho học sinh có không khí học tập thoải mái, lớp học sinh động, tạo cơ hội thể hiện sở thích của các em. Lớp học sôi nổi hứng thú cho tất cả học sinh.
 	Nhược điểm: GV phải chuẩn bị nhiều, gây tốn kém.
2.1.3. Nhóm mã màu: Hình thức chia như nhóm biểu tượng.
2.1.4. Nhóm cặp đôi: Xếp 2 học sinh vào một cặp .
2.1.5. Nhóm sở thích: Những học sinh có cùng sở thích ngồi cùng một nhóm. “Những người cùng sở thích thì sự thống nhất sẽ cao hơn.”
2.1.6. Nhóm tương trợ: Xếp những học sinh có trình độ và năng lực khác nhau (khá giỏi và trung bình- yếu) vào một nhóm, để học sinh khá giỏi có thể hỗ trợ cho học sinh yếu.
	2.1.7. Nhóm theo ghép hình: Cắt hình ra thành nhiều mảnh, cho học sinh nhận mỗi em mỗi mảnh sau đó ghép lại thành hình lúc đầu. Cách này ít khi sử dụng vì tốn nhiều thời gian cho một tiết học, chỉ thích hợp với các hoạt động ngoại khoá hay dạy học theo dự án.
2.1.8. Nhóm theo trình độ: Những học sinh cùng năng lực và trình độ sẽ ngồi một nhóm. 
 Ưu điểm: Giáo viên có thời gian giúp đỡ, hỗ trợ những nhóm có trình độ yếu và phát huy tính tự lập cho nhóm khá giỏi.
2.1.9. Nhóm cùng tháng sinh: Nhóm này cũng ít khi sử dụng vì trong lớp đôi khi cùng tháng nhiều hơn khác tháng, gây mất cân bằng. Chỉ thích hợp khi mình có tổ chức Vui chơi 
 	2.1.10. Cách chia nhóm ngẫu nhiên từ một hoạt động cụ thể:
 Trong quá trình dạy học, nếu tiết học nào đó mà học sinh nhàm chán, chúng ta muốn tổ chức cho học sinh một trò chơi “phá băng” từ trò chơi đó ta cũng có thể chia thành nhóm học tập mới.
 Cách làm: Người quản trò hô “đoàn kết –đoàn kết”. Cả lớp đáp “kết mấy – kết mấy” rồi đưa ra một con số (thường là số thành viên trong một nhóm) rồi kết thành vòng tròn, từ đó ta chia nhóm tiếp. 
2.2. Vai trò các thành viên trong nhóm
	Nhóm trưởng: Nhiệm vụ tổ chức, điều hành nhóm làm việc đồng thời cùng các thành viên trong nhóm trao đổi, đóng góp ý kiến về nhiệm vụ được giao.
Thư kí: Nhiệm vụ ghi chép, tổng hợp ý kiến.
Các thành viên: Trao đổi, đóng góp ý kiến về nhiệm vụ được giao.
 	Nguyên tắc nhóm: Tôn trọng sự tổ chức của nhóm trưởng, ghi chép trung thực ý kiến chung, báo cáo đầy đủ toàn bộ nội dung đã ghi chép, người nói phải có người nghe, tôn trọng ý kiến cá nhân, thiểu số phải tuân thủ theo đa số.
	Nguyên tắc làm việc nhóm: Cá nhân -> Cặp đôi -> Nhóm -> Kiểm tra chéo.
Lưu ý: Nhóm trưởng và các thành viên trong nhóm cần thay đổi tạo nên sự tự tin trong khi làm việc nhóm.
3. Phương pháp tổ chức các hoạt động trò chơi
	Để các trò chơi góp phần mang lại hiệu quả cao trong giờ học, khi tổ chức và thiết kế trò chơi phải đảm bảo những nguyên tắc sau :
3.1. Thiết kế trò chơi học tập trong môn Toán:
	Tổ chức trò chơi học tập để dạy môn Toán nói chung và môn Toán lớp 6 nói riêng, chúng ta phải dựa vào nội dung bài học, điều kiện thời gian trong mỗi tiết học cụ thể đưa các trò chơi cho phù hợp. Song muốn tổ chức được trò chơi trong dạy toán có hiệu quả cao thì đòi hỏi mỗi giáo viên phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, cặn kẽ và đảm bảo các yêu cầu sau :
	+ Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục
	+ Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu nội dung bài học
	+ Trò chơi phải phù hợp với tâm lý học sinh lớp 6, phù hợp với khả năng người hướng dẫn và cơ sở vật chất của lớp học.
	+ Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú.
	+ Trò chơi phải được chuẩn bị chu đáo
	+ Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh
3.2. Cấu trúc của Trò chơi học tập:
	+ Tên trò chơi
	+ Mục đích: Xác định rõ mục đích của trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng nào. 
	+ Đồ dùng, đồ chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong Trò chơi học tập.
	+ Luật chơi: Chỉ rõ quy tắc của hành động chơi quy định đối với người chơi, quy định thắng thua của trò chơi.
	+ Số người tham gia chơi: Cần chỉ rõ số người tham gia trò chơi
	+ Nêu cách chơi.
3.3. Cách tổ chức trò chơi
	Thời gian tiến hành: thường từ 5 - 7 phút
	- Đầu tiên là giới thiệu trò chơi :
	+ Nêu tên trò chơi.
	+ Hướng dẫn cách chơi bằng cách vừa mô tả vừa thực hành, nêu rõ quy định chơi.
	- Chơi thử và qua đó nhấn mạnh luật chơi
	- Chơi thật
	- Nhận xét kết quả chơi, thái độ của người tham dự, giáo viên có thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sai lầm cần tránh.
	- Thưởng - phạt: Phân minh, đúng luật chơi, sao cho người chơi chấp nhận thoải mái và tự giác làm trò chơi thêm hấp dẫn, kích thích học tập của học sinh. Phạt những học sinh phạm luật chơi bằng những hình thức đơn giản, vui (như chào các bạn thắng cuộc, hát một bài, nhảy lò cò...)
3.4. Một vài trò chơi điển hình
Trò chơi: Hái hoa dân chủ
(Áp dụng trong những tiết luyện ôn tập)
- Mục đích :	Rèn các kỹ năng tính toán, ôn tập kiến thức, kỹ năng giải toán.
- Chuẩn bị :	+ Một cây cảnh, trên có đính các bông hoa bằng giấy màu trong có các đề toán. 
	+ Phần thưởng
	+ Đồng hồ
	- Cách chơi: + Cho các em chơi trong lớp. Lần lượt từng em lên hái hoa. Em nào hái được hoa thì đọc to yêu cầu cho cả lớp cùng nghe. Sau đó suy nghĩ trong vòng 30 giây rồi trình bày câu trả lời trước lớp. Em nào trả lời đúng thì được khen và được một phần thưởng.
	+ Tổng kết chung khen những em chơi tốt .
Trò chơi : Rồng cuốn lên mây
- Mục đích: Kiểm tra kỹ năng tính nhẩm của học sinh. 
- Chuẩn bị:	Một tờ giấy viết sẵn các bài toán đã học.
- Cách chơi : Một em được chỉ định làm đầu rồng lên bảng.
	+ Em cất tiếng hát : 	"Rồng cuốn lên mây,Rồng cuốn lên mây
	Ai mà tính giỏi về đây với mình"
	+ Sau đó em hỏi : 	"Người tính giỏi có nhà hay không ?"
	- Một em học sinh bất kỳ trả lời :
	"Có tôi ! Có tôi !"
	- Em làm đầu rồng ra phép tính đó, ví dụ : "- 2 + 3 - 5 bằng bao nhiêu ?"
	- Em tính giỏi trả lời (nếu trả lời đúng thì được đi tiếp theo em đầu rồng). Cứ như thế em làm đầu rồng cứ ra câu hỏi và cuốn đàn lên mây.
4. Các phương pháp thường dùng khi dạy học
4.1. Phương pháp trực quan
Phương pháp trực quan trong dạy học Toán nói chung và dạy học Toán mô hình trường học mới nói riêng là phương pháp đặc biệt quan trọng, phương pháp này đòi hỏi nhóm trưởng tổ chức hướng dẫn các bạn hoạt động trực tiếp theo yêu cầu trong mỗi hoạt động, dựa vào đó nắm bắt được kiến thức kĩ năng.
4.2. Phương pháp gợi mở - vấn đáp
Phương pháp gợi mở vấn đáp là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa ra những kiến thức hoàn chỉnh mà sử dụng một hệ thống câu hỏi để hướng dẫn giúp đỡ học sinh khi các nhóm không thể hoàn thành được kiến thức cho riêng mình. Giáo viên giúp học sinh suy nghĩ và lần lượt trả lời từng câu hỏi, từng bước tiến dần đến kết luận cần thiết, giúp học tìm ra những kiến thức mới.
4.3. Phương pháp giảng giải minh hoạ
Phương pháp giảng giải minh hoạ trong dạy học Toán là phương pháp dùng lời nói để giải thích tài liệu Toán, kết hợp các phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích. Tuy nhiên với phương pháp này giáo viên cần điều hành nhóm trưởng rút ra kiến thức trong nhóm, nói ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
4.4. Phương pháp thực hành luyện tập:
Phương pháp thực hành luyện tập là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập các kiến thức kĩ năng của học sinh thông qua các hoạt động thực hành luyện tập. Hoạt động thực hành luyện tập chiếm hơn 50% tổng thời lượng dạy học ở lớp 6. Vì vậy phương pháp này được sử dụng thường xuyên trong các tiết dạy như học kiến thức mới, trong các tiết ôn tập, luyện tập. Nhiệm vụ chủ yếu của dạy học thực hành luyện tập là củng cố kiến thức và kĩ năng cơ bản của chương trình, rèn luyện các năng lực thực hành, giúp học sinh nhận ra rằng: học không chỉ để biết mà học còn để làm, để vận dụng.
 Tóm lại: Trong dạy học Toán liên môn trong mô hình trường học mới, người giáo viên cần biết vận dụng linh hoạt và lựa chọn các phương pháp phù hợp từng hoạt động bài học phù hợp với từng đối tượng học sinh, để hướng dẫn học sinh tự tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức mới, hướng dẫn học sinh thực hành hình thành và rèn luyện kĩ năng, hướng dẫn học sinh giải Toán, kết hợp việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, dạy học dự án, hay trò chơi Toán học nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới trong dạy học Toán theo mô hình trường học mới.
5. Một số kĩ thuật tổ chức hoạt động học và tiến trình các bước lên lớp 
5.1. Kĩ thuật tổ chức hoạt động học theo kí hiệu
Sách hướng dẫn học Toán 6 được thiết kế theo một cấu trúc trình tự, mỗi hoạt động học đều được kí hiệu cách học:
Trước khi bước vào một tiết học giáo viên yêu cầu nhóm trưởng kiểm tra các dụng cụ hỗ trợ học tập của các thành viên như giấy nháp, bút, thước kẻ, ...
a. Hoạt động nhóm : Khi gặp kí hiệu này thì giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện bài tập theo nhóm theo nguyên tắc: Cá nhân -> Cặp đôi -> Nhóm chung. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng theo nguyên tắc trên mà tùy bài tập, thông thường thì cả nhóm thảo luận và thống nhất chung luôn, bỏ qua làm việc cá nhân và cặp đôi. Nếu hoạt động có nhiều bài tập thì nhóm trưởng chia cho các cặp để giải quyết riêng rồi sau đó thống nhất chung.
Yêu cầu trong hoạt động này là:
- Thư ký nhóm phải ghi kết quả thảo luận chung.
- Nhóm trưởng phải đảm bảo các thành viên trong nhóm hiểu nội dung đang học.
- Nhóm trưởng đưa bảng báo cáo và các nhóm phải cử người kiểm tra chéo kết qủa của nhau.
b. Hoạt động cặp đôi : Khi gặp kí hiệu này thì nhóm trưởng chia cặp (2 hoặc 3 bạn) thảo luận.
Yêu cầu của hoạt động này:
	- 2 bạn quay mặt lại với nhau cùng giải quyết bài tập (đổi vai cho nhau).
	- Từng cặp phải ghi kết quả chung của mình.
	- Nhóm trưởng kiểm tra kết quả lần lượt của các cặp.
	- Thư ký nhóm ghi thống nhất kết quả chung của từng nội dung hoạt động.
	- Nhóm trưởng đưa bảng báo cáo và các nhóm cử người kiểm tra chéo nhau.
c. Hoạt động chung cả lớp : Thông thường đến hoạt động này giáo viên nên ngừng lớp học lại, yêu cầu tất cả học sinh chú ý vào nội dung hoạt động. 
Cách tổ chức hoạt động:
- Giáo viên hoặc Chủ tịch HĐTQ mời 1 hoặc 2 bạn đọc nội dung hoạt động (thường đây là phần kiến thức mới cần ghi nhớ), tất cả học sinh phải chú ý vào nội dung không làm việc riêng.
- Giáo viên giải thích thêm hoặc đặt thêm câu hỏi để làm rõ nội dung kiến thức.
- Dành một ít thời gian để từng học sinh đọc lại thật kĩ nội dung.
- Cho các em trong cùng nhóm hoặc khác nhóm kiểm tra chéo nhau phần kiến thức mới (nên khuyến khích đặt câu hỏi liên quan đến kiến thức mới hoặc cho ví dụ).
d. Hoạt động cá nhân : Cá nhân tự làm các bài tập rồi báo cáo kết quả với thầy/cô giáo. Sự phân hóa khả năng học sinh thể hiện rõ nhất trong hoạt động này. Lúc này là lúc mà giáo viên phải chú ý đến hai đối tượng là học sinh yếu và khá giỏi. 
Chú ý: 
- Mặc dù là hoạt động cá nhân để làm các bài tập nhưng giáo viên nên yêu cầu nhóm cùng tham gia vào bài tập và đảm bảo tiến độ chung theo cả nhóm. Hiểu “nôm na” là gắn tiến độ cá nhân là trách nhiệm chung của nhóm. 
- Phải rèn được ý thức “Cá nhân tự giác yêu cầu trợ giúp từ bạn, thầy cô”.
- Vì thời gian tiết học hạn chế nên giáo viên không thể trợ giúp hết tất cả học sinh yếu, nên cần áp dụng chia các cặp hỗ trợ học tập để những em học lực khá giỏi hướng dẫn cho các bạn yếu hơn hoàn thành bài tập.
- Cũng có thể bỏ qua thiết kế bài tập của sách mà chỉ chọn một vài bài đặc trưng nhất cho những bạn học yếu hoàn thành, phần còn lại về nhà các em hoàn thành tiếp.
- Chuẩn bị các bài tập khó hơn cho các em học sinh khá giỏi (nếu thật sự cần).
e. Hoạt động báo cáo: Có 3 lần báo cáo kết quả trong một bài học như sau:
Sau hoạt động sẽ có:
Lúc này là lúc giáo viên chốt lại phần lý thuyết là những kiến thức chính của bài học. Cần rèn cho học sinh cách trả lời và kiểm tra bằng cách bám vào mục tiêu bài học. Có nghĩa mục tiêu có bao nhiêu ý thì trả lời bấy nhiêu ý. Để khắc sâu hơn giáo viên có thể chuẩn bị nội dung này trên máy chiếu để chiếu cho học sinh nắm lại một lần nữa những vấn đề chính. Phần chốt kiến thức này trong chương trình dạy hiện hành thường để cuối giờ học, đối với chương trình mới thì chốt kiến thức ngay để các em nắm và áp dụng vào luyện tập.
Sau hoạt động sẽ có:
Phần báo cáo này là báo cáo kết quả các bài tập mà các em đã làm được.
Sau hoạt động sẽ có:
Thường phần này là kiểm tra các hoạt động cho về nhà gồm các hoạt động C, D, E và ghi nhận xét vào vở bài tập các em hoặc phiếu kiểm tra tiến độ học tập hoặc nhật ký riêng của giáo viên.
Chú ý:
- Trong một tiết dạy giáo viên cố gắng tổ chức đến hoạt động C. Luyện tập, không có nghĩa là phải hết hoạt động C. Thực tế, khi giảng dạy chỉ có thể hoàn thành một phần của hoạt động C, như vậy các bài tập còn lại phải cho học sinh về nhà hoàn thành tiếp. Nên giáo viên cần lựa chọn bài tập phù hợp cho học sinh luyện tập tại lớp.
- Giáo viên thường có tâm lý cho bài tập nâng cao trong tiết học, điều này không nên vì đối tượng khá giỏi đã có những giờ học khác để nâng cao, mà chủ yếu là rèn các em học sinh yếu kém để bắt kịp tiến độ chung cả lớp, vì các bài toán nâng cao chiếm quá nhiều thời gian của giáo viên khi giảng giải.
5.2. Thiết kế tiến trình các bước lên lớp trong một tiết
Cho tới nay, chưa có một định hướng chung các bước lên lớp như trong chương trình giáo dục hiện hành, cho nên mỗi GV khi đứng lớp cần thiết kế cho mình một tiến trình các bước lên lớp phù hợp với học sinh của mình. 
Dưới đây là một gợi ý tiến trình các bước lên lớp:
Tiến trình các bước
Người tổ chức hoạt động
B1. Giới thiệu thành phần tham dự tiết học (nếu có)
B2. Báo cáo tiến độ học tập
B3. Giới thiệu bài học 
B4. Đọc mục tiêu bài học
B5. Hoạt động khởi động
B6. Hoạt động hình thành kiến thức
	1a. Hoạt động chung cả lớp
	1b. Hoạt động cặp đôi -> 1c. Hoạt động nhóm -> Các nhóm báo cáo
	(Các hoạt động 2a -> 2b -> 2c, ....)
B7. Báo cáo kiến thức đã học được
B8. Luyện tập
B9. Báo cáo kết quả bài tập các nhóm
B10. Kết thúc bài học, nhận xét và dặn dò về nhà.
Giáo viên bộ môn
HĐTQ. GV nhận xét, đánh giá.
HĐTQ hoặc GV
HĐTQ
HĐTQ
HĐTQ
HĐTQ hoặc GV
HĐTQ. GV kiểm tra song song và độc lập với các nhóm.
GV. Khuyến khích học sinh nhận xét bổ sung.
HĐTQ và GV.
HĐTQ và GV.
GV
Chú thích các bước:
B1. Thông thường khi thầy/cô vào lớp thì học sinh sẽ phải đứng dậy ngay ngắn để chào, chỉ là phần chào hỏi đầu giờ trong một tiết học. 
Nếu trong tiết học đó, có giáo viên khác dự giờ thăm lớp, dự giờ thanh tra hoặc có mời phụ huynh dự giờ thì giáo viên trực tiếp giảng dạy giới thiệu trước lớp. Phần này không nên để học sinh giới thiệu, vì chỉ có giáo viên trực tiếp đứng lớp mới có quyền đồng ý ai tham dự vào trong tiết dạy của mình. 
Sau khi giáo viên giới thiệu xong, thì mời HĐTQ giới thiệu chung tổ chức lớp học cho đại biểu biết, nếu không có ai dự giờ thì bỏ qua.
B2. Chủ tịch HĐTQ hoặc Phó chủ tịch báo cáo tiến độ học tập chung cả lớp với giáo viên, bao gồm cả phần bài tập về nhà. Nếu tiến độ đảm bảo để có thể cả lớp cùng học bài mới thì giáo viên giao nhiệm vụ học tập là bài mới. Trường hợp có nhóm chưa kịp thì giáo viên phải giao nhiệm vụ học tập theo nhóm. Nên cố gắng xử lý để hạn chế xảy ra tình trạng lệch tiến độ, bằng cách tận dụng các tiết học phụ kém và kết hợp với cha mẹ học sinh để giúp các em chưa hoàn thành tiến độ. 
B3. Thông thường giáo viên là người dẫn dắt và giới thiệu bài học, nhưng với mô hình trường học mới nên rèn cho học sinh kỹ năng này.
B4. Chủ tịch HĐTQ mời 1 hoặc 2 bạn đọc mục tiêu cho cả lớp nghe hoặc yêu cầu các bạn đọc thầm trong 1 hoặc 2 phút.
B5. HĐTQ tổ chức các hoạt động khởi động có sự trợ giúp của giáo viên. Giáo viên chú ý tình huống có vấn đề trong hoạt động này để chuyển giao nhiệm vụ học tập bước sau. Đôi khi khởi động chỉ đơn giản là hát một bài tập thể, chơi một trò chơi vận động nào đó không liên quan đến bài học.
B6. Các hoạt động học tập ở bước này rất quan trọng, GV và HĐTQ cùng tiến hành tổ chức hoạt động này, thông thường từ tình huống có vấn đề ở bước trên giáo viên dẫn đắt vào nội dung hình thành kiến thức và chuyển giao nhiệm vụ cho lớp. Tiến trình thực hiện ở hoạt động này như sau:
Tiến trình hoạt động B6
Phần kiến thức
- HĐTQ yêu cầu các bạn đọc hoạt động “Đọc kĩ nội dung sau” 
- Giáo viên giải thích, cho ví dụ, đặt thêm câu hỏi khắc sâu kiến thức nếu cần.
- GV chuyển giao nhiệm vụ cho các nhóm
- Các nhóm tổ chức nghiên cứu lại một lần nữa phần kiến thức mới, các thành viên trong nhóm kiểm tra chéo nhau.
- Nhóm trưởng giao nhiệm vụ học tập tiếp theo cho các cặp.
- Nhóm trưởng thống nhất kết quả trong nhóm, rồi giao tiếp nhiệm vụ tiếp theo (nếu còn). 
(Từ 1a, 1b, 1c, ... nếu học sinh có vướng mắc cần trợ giúp thì đưa bảng trợ giúp, GV hỗ trợ hoặc cử học sinh khác hỗ trợ.)
- Nếu hết hoạt động thì nhóm trưởng đưa bảng báo cáo, GV hoặc học sinh khác đến kiểm tra, nhận xét với nhóm trưởng và giao nhiệm vụ học tập tiếp theo.
Lặp lại như trên các phần 2a, 2b, 3a, 3b, ... cho đến hết các hoạt động B. Hình thành kiến thức.
Phần 1a
Phần 1b
Phần 1c, 1d, ...
Chú ý B6: 
- Sau mỗi phần hoạt động nhỏ 1; 2; 3; ... các nhóm cần báo cáo kết quả và cho tiến hành kiểm tra chéo. 
- Giáo viên kiểm tra song song và độc lập với học sinh, chủ yếu là theo dõi các em kiểm tra nhận xét rồi giáo viên bổ sung thêm. Tránh việc gì giáo viên cũng làm thì không thể rèn được kỹ năng cho các em.
- Cố gắng để các nhóm hoàn thành cùng thời điểm để tiến hành hoạt động chung cả lớp (1a, 2a, 3a, ...) thì tiết dạy đỡ vất vả hơn.
B7. Bước này GV yêu cầu học sinh tóm tắt các kiến thức mới vừa được học. Chú ý thêm các nội dung nếu cần và chuyển giao nhiệm vụ C.Luyện tập cho cả lớp.
B8. Trong bước này học sinh sẽ hoàn thành bài tập theo cá nhân, lúc này GV cần đến t

File đính kèm:

  • docbao_cao_bien_phap_mot_so_phuong_phap_dac_trung_day_hoc_tich.doc